Friday, March 2, 2012

Đói...

Bình thường cứ vô tư để ý những tăng trưởng, lạm phát, ICOR, FDI, ngoại hối, tỷ giá, xuất nhập khẩu... Chưa bao giờ để ý đến các thứ này, không hề nghĩ rằng "giáp hạt" với "nạn đói" vẫn còn tồn tại.

 ---
26/01/2011 15:57

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng vừa ký Quyết định hỗ trợ 3.730 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hộ trợ cứu đói cho nhân dân 3 tỉnh Yên Bái, Ninh Bình, Ninh Thuận trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2011.
 


Cụ thể, tỉnh Yên Bái và Ninh Thuận cùng được hỗ trợ 1.000 tấn, tỉnh Ninh Bình được hỗ trợ 1.730 tấn.

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh trên sử dụng số gạo được cấp này hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng cho nhân dân cứu đói: báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội kết quả thực hiện để các Bộ tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đồng thời, trong trường hợp số gạo được cấp bị sử dụng sai quy định, không đúng đối tượng hoặc không sử dụng hết, các tỉnh phải có trách nhiệm hoàn trả số gạo này để đưa vào dự trữ quốc gia.

Được biết, ngày 21/1/2011, Thủ tướng Chính phủ cũng đã Quyết định hỗ trợ 33.816 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho nhân dân 11 địa phương gặp nhiều khó khăn khác, bao gồm: Bình Định, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Sơn La.

---
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 13 tháng 01 năm 2012

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỖ TRỢ GẠO CỨU ĐÓI CHO CÁC ĐỊA PHƯƠNG
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại các văn bản số 33/LĐTB&XH-BTXH ngày 03 tháng 01 năm 2012, số 88/LĐTB&XH-BTXH ngày 10 tháng 01 năm 2012, số 4558/LĐTBXH-BTXH ngày 22 tháng 12 năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại văn bản số 01/TTr-UBND ngày 09 tháng 01 năm 2012, ý kiến của Bộ Tài chính tại các văn bản số 481/BTC-NSNN ngày 11 tháng 01 năm 2012, số 593/BTC-NSNN ngày 13 tháng 01 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
1. Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 9.879 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ các địa phương để cứu đói nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2012, cụ thể:
- Tỉnh Lai Châu: 2.034 tấn gạo.
- Tỉnh Kon Tum: 390 tấn gạo.
- Tỉnh Bình Định: 2.000 tấn gạo.
- Tỉnh Thanh Hóa: 1.060 tấn gạo.
- Tỉnh Quảng Nam: 2.000 tấn gạo.
- Tỉnh Phú Yên: 395 tấn gạo.
- Tỉnh Đắk Lắk: 2.000 tấn.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh sử dụng số gạo được cấp nêu trên hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng cho nhân dân cứu đói. Trường hợp sử dụng sai quy định, không đúng đối tượng, không sử dụng hết số gạo được cấp phải có trách nhiệm hoàn trả để đưa vào dự trữ quốc gia. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Các Bộ trưởng: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh có tên tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.


Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Thủ tướng CP, các PTTg: Vũ Văn Ninh, Hoàng Trung Hải;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ: KTN, ĐP, KGVX;
- Lưu: VT, KTTH (3).
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG




Vũ Văn Ninh
------
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2012

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỖ TRỢ GẠO CỨU ĐÓI CHO CÁC ĐỊA PHƯƠNG
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại văn bản số 286/LĐTBXH-BTXH ngày 08 tháng 02 năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình tại văn bản số 80/UBND-VX ngày 04 tháng 02 năm 2012, ý kiến của Bộ Tài chính tại các văn bản số 1544/BTC-NSNN ngày 09 tháng 02 năm 2012, số 2124/BTC-NSNN ngày 20 tháng 02 năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 767/BKHĐT-KTDV ngày 17 tháng 02 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
1. Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 2.550 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ các địa phương để cứu đói nhân dân trong thời gian giáp hạt năm 2012, cụ thể:
- Tỉnh Quảng Trị: 1.300 tấn gạo.
- Tỉnh Quảng Bình: 1.250 tấn gạo.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh sử dụng số gạo được cấp nêu trên hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng cho nhân dân cứu đói. Trường hợp vẫn còn khó khăn, Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bổ sung gạo hỗ trợ cho nhân dân.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Các Bộ trưởng: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh có tên tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Thủ tướng CP, các PTTg: Vũ Văn Ninh, Hoàng Trung Hải;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ: KTN, ĐP, KGVX;
- Lưu: VT, KTTH (3)
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG




Vũ Văn Ninh
 ---
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2012

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỖ TRỢ GẠO CỨU ĐÓI CHO TỈNH SƠN LA
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tại văn bản số 16/BC-UBND ngày 19 tháng 01 năm 2012, ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại văn bản số 433/LĐTBXH-BTXH ngày 20 tháng 2 năm 2012, Bộ Tài chính tại văn bản số 2187/BTC-NSNN ngày 21 tháng 2 năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 766/BKHĐT-KTDV ngày 17 tháng 02 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
1. Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 539 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ tỉnh Sơn La để cứu đói giáp hạt năm 2012.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La sử dụng số gạo được cấp nêu trên hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng cho nhân dân cứu đói. Trường hợp vẫn còn khó khăn, Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bổ sung gạo hỗ trợ cho nhân dân.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Các Bộ trưởng: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Như điều 3;
- Thủ tướng CP, các PTTg: Vũ Văn Ninh, Hoàng Trung Hải;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ: KTN, ĐP, KGVX;
- Lưu: VT, KTTH (3).
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG




Vũ Văn Ninh

Monday, February 27, 2012

"Hợp đồng góp vốn"

Bị dằn vặt vì bài báo hôm trước, với vấn đề coi prepaid của khách hàng là một phần trong capital structure.

Nhưng mìh có mắt mà không thấy Thái Sơn. Nếu đó là prepaid - ok, mìh hiểu đúng. Nhưng nếu nó là GÓP VỐN, chẳng phải nó đã thành một phần EQUITY rồi?

Và đó là lý do có cái gọi là Hợp đồng góp vốn. Google thử "Hợp đồng góp vốn" ra được vài thứ dưới đây. Để đó làm "food for thought" :).

Về đại ý thì:
- Cũng có luật này nọ nhưng chủ đầu tư có theo ko thì ko kiểm soát đc
- Với đống hợp đồng chủ đầu tư làm sẵn thì thường xuyên phần thiệt thuộc về bên kia rồi
- Là ng` bán, cách này tiết kiệm chi phí bao nhiêu
- Là ng` mua, mìh thấy việc này giống như thả gà ra rồi đuổi. Nhưng mình là người muốn mua chung cư thật, mìh biết làm tn? Tự dưng nghĩ đến cái cảnh cuối năm "đụng lợn" với lại nấu chung bánh chưng. Chẳng nhẽ, lại phải rủ một hội đủ thân tín tin tưởng để chung nhau mua đất xây cái chung cư mini???


------------------------

Thứ năm, 10/03/2011, 10:38 GMT+7
Hỏi: Tôi đang tìm hiểu và dự định mua căn hộ chung cư mới đang xây dựng và trả tiền theo tiến độ xây dựng. Tôi muốn hỏi hợp đồng góp vốn chia căn hộ khác hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai như thế nào?
Tôi có nghe nói đến vấn đề, đối với chung cư đang xây dựng mà chủ đầu tư bán bằng cách “Hợp đồng góp vốn chia căn hộ chung cư mới đang xây dựng và trả tiền theo tiến độ xây dựng". Tuy nhiên tôi có một số băn khoăn như sau:

Đối với chung cư đang xây dựng mà chủ đầu tư bán bằng cách “ hợp đồng góp vốn chia căn hộ” thì có được không? Hay là phải mua bán bằng hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai? Khác nhau giữa hai loại hợp đồng này là gì?
Thế nào là hợp đồng góp vốn chia căn hộ? | ảnh 1
Trả lời:

Theo khoản 1 điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/08/2010 thì chủ đầu tư dự án phát triển khu nhà ở, dự án khu đô thị mới( chủ đầu tư cấp 1) có nhu cầu huy động vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đối với phần diện tích xây dựng nhà ở và đầu tư xây dựng nhà ở trong khu nhà ở, khu đô thị có thể huy động vốn theo nhiều cách trong đó có hai hình thức: “ ký hợp đồng, văn bản góp vồn hoặc hợp đồng, văn bản hợp tác đầu tư với tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng nhà ở và bên tham gia góp vốn hoặc bên tham gia hợp tác đầu tư chỉ được phân chia lợi nhuận (bằng tiền hoặc cổ phiếu) hoặc được phân chia sản phẩm là nhà ở trên cơ sở tỷ lệ vốn góp theo thỏa thuận (gọi tắt là hợp đồng góp vốn chia căn hộ) hoặc “Huy động vốn từ tiền mua nhà ứng trước của các đối tượng được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở thông qua hình thức ký hợp dồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai” (gọi tắt là hợp dồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai)

Đối với hình thứchợp đồng góp vốn chia căn hộ thì phải đáp ứng các điều kiện và có các đặc điểm sau:

+ Dự án phát triển nhà ở được phê duyệt, đã thực hiện khởi công xây dựng công trình nhà ở, thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở biết trước 15 ngày, tính đến ngày ký hợp đồng góp vốn.

Số lượng căn hộ được phân chia tối đa cho các hình thức huy động vốn không quá 20% số lượng nhà ở trong mỗi dự án

Đối tượng được tham gia đống góp vốn để được chia căn hộ phải thuộc diện được sở hữu nhà ở Việt Nam.

Nếu người tham gia góp vốn là cá nhân hộ gia đình thì chỉ được tham gia góp vốn theo hình thức phân chia sản phẩm là nhà ở một lần với số lượng một nhà ở : các trường hợp còn lại thì hộ gia đình, cá nhân chỉ được phân chia lợi nhuận bằng tiền hoặc cổ phiếu ( khoản 5 điều 8 thông tư số :16/2010 TT-BXD ngày 01/9/2010).

Bên được chia nhà ở không được chuyển nhượng quyền được phân chia nhà ở cho các tổ chức cá nhân khác khi chưa ký hợp đồng mua bán với chủ đầu tư( khoản 5 điều 8 thông tư số : 16/2010 TT-BXD ngày 01/9/2010).

Đối với hình hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai thì phải đáp ứng các điều kiện và có các đặc điểm sau:

Thiết kế kĩ thuật nhà ở đã được phê duyệt, đã xây dựng xong phần móng của nhà ở, đã hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn gia dịch bất động sản theo đúng quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản và thong báo sở Xây Dựng nơi có dự án phát triển nhà ở.

Đối tượng mua căn hộ phải thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Số lượng được mua bán can hộ không bị hạn chế trong mỗi dự án.

Số lượng can hộ được bán cho cùng một đối tượng của cùng một dự án không bị hạn chế

Pháp luật cũng quy định, bên mua căn hộ được quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ cho tổ chức cá nhân khác theo đúng quy định của pháp luật.
Luật sư Thanh Hải

---------------------------------------------
Thứ Hai, 06/06/2011 - 4:53 PM


Để hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro, trước khi quyết định mua, khách hàng cần cân nhắc kỹ tài chính để góp đúng kỳ hạn, chọn doanh nghiệp có uy tín và nên nhờ luật sư tư vấn, kiểm tra chặt chẽ các điều khoản chi tiết trong HĐ… Hợp đồng góp vốn chưa có nhiều ràng buộc và chỉ mang tính chất thỏa thuận nên rủi ro cao về mặt pháp lý…

Theo quy định, với nhà đầu tư (NĐT) cá nhân thì Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản (BĐS) quy định chỉ được huy động (góp vốn) khi đã hoàn thành hạ tầng đối với dự án đất nền và khi đã hoàn thành phần móng đối với nhà chung cư. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết chủ đầu tư (CĐT) đã tổ chức huy động vốn khi các dự án chưa thực hiện đúng các quy định trên. Đã có không ít vụ tranh chấp xảy ra liên quan về vấn đề này và phần thua thiệt bao giờ cũng thuộc về phía khách hàng…

Nhu cầu mua căn hộ trả góp để ở của người dân rất cao. Tuy nhiên, để tránh rủi ro, NĐT cần thận trọng trước khi đặt bút ký hợp đồng.
Do có nhu cầu mua căn hộ chung cư, chị N.T.C. (ngụ quận 11, TP HCM) sau khi xem nhà mẫu trên cataloge, chị C. đã chọn mua một căn hộ thuộc chung cư cao cấp tại huyện Nhà Bè do Công ty H.N. làm CĐT. Tháng 1/2008, chị C. ký hợp đồng góp vốn (HĐGV) với Công ty H.N.. Theo đó, căn hộ chị C. mua có diện tích hơn 200m2 (17,8 triệu đồng/m2) với tổng giá trị hơn 3,5 tỷ đồng (chưa VAT). Chị C. phải góp làm 12 đợt. Công ty H.N. sẽ giao căn hộ hoàn thiện cho chị C. vào cuối tháng 6/2009 (theo thoả thuận có thể chậm hơn 4 tháng, tức tháng 10/2009 giao nhà). Nếu bên CĐT bàn giao căn hộ chậm hơn so với quy định thì sẽ tính lãi cho chị C. trên tổng số tiền đã góp. Lãi suất áp dụng là lãi suất tiền gửi tiết kiệm 6 tháng của Ngân hàng tại thời điểm tính lãi. Thời điểm tính lãi từ ngày 1/11/2009.  Trường hợp chị C. không thanh toán theo đúng tiến độ góp vốn như quy định thì phải chịu lãi suất 0,05%/ngày…
Tuy nhiên, khi đã đến thời điểm nhận nhà, nhưng chị C. không hề nghe phía CĐT liên hệ để đề cập đến việc giao căn hộ. Nhiều lần chị C. chủ động liên hệ nhưng phía công ty cứ hẹn lần hẹn lữa. Đến xem căn hộ, chị C. cũng ngỡ ngàng khi thấy căn hộ cuả mình chỉ mới hoàn thành phần thô. Ngày 22/7/2010, chị C. nhận được thông báo lần 2 của Công ty H.N. "về việc bàn giao căn hộ" (trong đó có ghi công ty đã gửi thông báo lần 1 ngày 9/11/2009 nhưng chị C. không đến xem và nhận bàn giao căn hộ).
Quá bức xúc, chị C. cho rằng chị không hề nhận được thông báo lần 1. Hơn nữa, công ty nói mời lên xem và nhận bàn giao căn hộ thì thời điểm này công ty làm gì có căn hộ hoàn thiện để mà giao cho chị? Tuy nhiên sau đó chị C. đến xem căn hộ nhưng không chấp nhận vì có một số hạng mục chưa đạt yêu cầu.
Ngày 28/7/2010, Công ty H.N. đã chỉnh sửa theo yêu cầu cuả chị C. và bàn giao căn hộ nhưng chị C. không đồng ý nhận, tiếp tục yêu cầu công ty phải tính lãi bàn giao nhà chậm theo như cam kết trong hợp đồng (HĐ) thì chị mới nhận nhà. Chờ mãi không được giải quyết, khoảng gần cuối tháng 4/2011 chị C. buộc phải nhận căn hộ. Theo tính toán cuả chị C., số tiền lãi chậm bàn giao căn hộ theo như HĐ (từ 11/2009 đến 7/2010) hơn 250 triệu đồng (lãi suất hiện hành 14% năm). Và từ tháng 8/2010 (sau khi căn hộ hoàn thiện) đến khi chị C. nhận căn hộ, đã có nhiều người hỏi thuê cũng như những hộ xung quanh cho thuê 1.000 USD/tháng, như vậy trong 8 tháng đó, chị bị thiệt hại không phải là ít.
Về vấn đề này, ngày 25/5 đại diện Công ty H.N. có văn bản trả lời: Tính đến ngày bàn giao căn hộ theo HĐ (cuối tháng 10/2009) chị C. đóng (theo tiến độ) trễ 204 ngày. Ngày 28/7/2010 căn hộ đã hoàn tất theo yêu cầu cuả chị C.. Thời điểm này cũng là cơ sở để công ty xác định lãi chậm thanh toán và chậm bàn giao căn hộ (nếu có).
Về quan hệ góp vốn, Công ty H.N. cho rằng: Trong quá trình đầu tư xây dựng công trình, đặc biệt là với dự án khu căn hộ có quy mô lớn thì CĐT cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn. Trong đó, nguồn quan trọng nhất là từ khách hàng. Do đó, CĐT và khách hàng đã cùng thống nhất ký kết các HĐGV đầu tư. Căn cứ vào các HĐGV cuả khách hàng, CĐT cùng các nhà thầu sẽ tính toán tiến độ xây dựng công trình, từ đó mới xác định thời gian bàn giao căn hộ. Tuy nhiên, nếu khách hàng không tuân theo tiến độ góp vốn như thoả thuận tại HĐGV thì CĐT sẽ gặp khó khăn về vốn dẫn đến chậm trễ bàn giao căn hộ. Chính vì vậy, công ty chỉ thanh toán lãi chậm bàn giao cho những căn hộ mà khách hàng đã tuân thủ đúng tất cả các kỳ hạn góp vốn đã thỏa thuận với CĐT tại HĐ.
Trường hợp của chị C., quá trình góp vốn chậm trễ hầu hết các đợt, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án và bàn giao căn hộ. Công ty H.N. cũng cho rằng, quan hệ góp vốn đầu tư là khách hàng tự nguyện cùng góp vốn đầu tư dự án với CĐT để được phân chia lợi nhuận là sản phẩm cuả dự án tương ứng số tiền góp vốn là 1 căn hộ. Do đó, đây không phải là giao dịch mua bán căn hộ theo hình thức trả chậm, trả dần.
Theo quy định, đối với các dự án kinh doanh nhà ở thì CĐT chỉ được huy động vốn lần đầu từ khách hàng khi thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và công trình nhà ở đã được xây dựng xong phần móng. Tổng số tiền huy động trước khi bàn giao nhà ở cho người mua không vượt quá 70% giá trị ghi trong HĐ. Tuy nhiên, thực tế hiện nay hầu hết các giao dịch BĐS được thực hiện dưới hình thức HĐ vay vốn góp vốn. Các dự án CĐT rao bán cũng chỉ khi mới còn nằm trên bản vẽ thiết kế và tổng số tiền huy động vốn trước khi bàn giao căn hộ cũng lên đến 95% giá trị ghi trong HĐ.
Ngoài ra, tình trạng CĐT đã nhận tiền "góp vốn" nhưng chậm trễ triển khai dự án dẫn đến chậm giao nhà hiện cũng đang xảy ra khá phổ biến. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực BĐS, khi tham gia dưới hình thức này, khi có tranh chấp xảy ra phần thua thiệt bao giờ cũng ở phía khách hàng. Vì vậy, người mua cần thận trọng khi ký các HĐ mua căn hộ, đặc biệt với những HĐGV ở những dự án chưa hoàn tất phần móng thì mức độ rủi ro càng cao.
Vì vậy, để hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro, trước khi quyết định mua, khách hàng cần cân nhắc kỹ tài chính để góp đúng kỳ hạn, chọn doanh nghiệp có uy tín và nên nhờ luật sư tư vấn, kiểm tra chặt chẽ các điều khoản chi tiết trong HĐ… HĐGV chưa có nhiều ràng buộc và chỉ mang tính chất thỏa thuận nên rủi ro cao về mặt pháp lý
K.Ngân
----------------------

“Nút thắt” trong hợp đồng góp vốn

LS. Huỳnh Trung Hiếu (*)
Thứ Ba,  23/8/2011, 10:43 (GMT+7)
 

 

 

 


“Nút thắt” trong hợp đồng góp vốn
LS. Huỳnh Trung Hiếu (*)
minh họa: Khều.
(TBKTSG) - Trong bối cảnh khó khăn về tài chính hiện nay, tìm ra giải pháp dung hòa giữa quy định và nhu cầu thực tế về huy động vốn cho doanh nghiệp bất động sản là một vấn đề không dễ. Có quá nhiều quy định bó buộc, không rõ ràng.
Khó khăn
Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở, chủ đầu tư được quyền huy động vốn bằng cách bên góp vốn ứng tiền trước. Nhưng để được phép huy động vốn theo kiểu này, dự án đầu tư phải hoàn thành xong phần móng công trình (điều 39, Luật Nhà ở). Trong quá trình triển khai dự án, các chủ đầu tư thường lách quy định, huy động vốn bằng các hình thức: hợp đồng góp vốn, hợp tác kinh doanh hoặc vay vốn với người mua nhà (kể cả việc huy động vốn ngay sau khi dự án đầu tư được phê duyệt).
Theo Nghị định 71 chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở phải sử dụng vốn đã huy động vào đúng mục đích xây dựng dự án phát triển nhà ở. Những trường hợp huy động vốn không đúng các hình thức và không đáp ứng đủ các điều kiện quy định thì hợp đồng không có giá trị pháp lý và bên huy động vốn bị xử lý theo quy định hiện hành. Chính vì thế các giao dịch liên quan đến hợp đồng có “yếu tố góp vốn” (nhất là các giao dịch góp vốn trước khi Nghị định 71 có hiệu lực) bị cấm hoàn toàn. Đa số các phòng công chứng, các cơ quan nhà nước không triển khai các nghiệp vụ có liên quan đến loại hợp đồng này (công chứng, chứng thực,…).
Thực tế, các loại hợp đồng dạng góp vốn giữa chủ đầu tư và người mua nhà chiếm số lượng rất lớn trong các giao dịch mua bán chuyển nhượng. Tuy nhiên người mua nhà muốn chuyển nhượng, thực hiện các giao dịch liên quan đến hợp đồng góp vốn không biết dựa vào quy định nào. Điều này gây không ít khó khăn, phiền toái, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đã lỡ góp vốn mua nhà.
Ngoài ra, pháp luật quy định việc huy động vốn cho dự án bất động sản chỉ được thực hiện trong phạm vi 20% số lượng nhà ở trong mỗi dự án. Đối với nhiều nhà đầu tư con số 20% là không đủ cho nhu cầu vốn ban đầu và nếu muốn có thêm nguồn vốn để đầu tư xây dựng, doanh nghiệp buộc phải tìm cách tự cứu mình bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó, nguồn đầu tư của chính khách hàng (góp vốn ngoài 20%) vẫn là kênh huy động vốn “truyền thống”, nhưng do bị cấm nên chủ đầu tư buộc phải lách các quy định có lợi cho mình.
… những hệ lụy
Trong quá trình chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, nếu chủ đầu tư không xác nhận giao dịch hợp đồng góp vốn thì bên mua nhà có thể ép chủ đầu tư chấm dứt hợp đồng góp vốn và đòi lại số tiền đã thanh toán. Người mua nhà nếu được trang bị chút kiến thức về pháp luật thì việc yêu cầu chấm dứt càng trở nên đơn giản vì nếu chủ đầu tư không đồng ý phương án họ đưa ra, họ có thể dựa vào yếu tố pháp lý giao dịch để “dọa” chủ đầu tư hủy hợp đồng góp vốn.
Trường hợp người mua nhà gây khó dễ cho chủ đầu tư như nói trên không phải hiếm, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn về tài chính như hiện nay. Trong khi đó, chủ đầu tư không thể cam kết với khách hàng của mình trường hợp chuyển nhượng và xác nhận chuyển nhượng hợp đồng góp vốn có đảm bảo cơ sở pháp lý hay không, vì Nghị định 71 không có quy định chuyển tiếp xử lý các vấn đề liên quan đến hợp đồng góp vốn đã ký trước ngày nghị định này có hiệu lực.
Nhằm gỡ thế bí, nhiều chủ đầu tư thực hiện phương án ký chuyển đổi hợp đồng góp vốn sang hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai sau khi dự án đáp ứng các yêu cầu pháp lý mua bán theo đúng Nghị định 71. Việc này sẽ giúp khách hàng của họ yên tâm hơn khi mua bán vì giao dịch được trả về đúng bản chất của nó, điều quan trọng hơn là việc chuyển đổi sẽ hợp thức hóa giao dịch góp vốn. Ngoài ra, thông qua hợp đồng mua bán, các bên sẽ dễ dàng hơn khi đề nghị chuyển nhượng hợp đồng cho người có nhu cầu. Tuy nhiên do không có quy định hướng dẫn cụ thể nên không ai dám chắc việc chuyển đổi này có được chấp thuận hay không và quyền lợi của chủ đầu tư cũng như người mua nhà vẫn không có gì đảm bảo.
Chủ đầu tư loay hoay tìm “phao”
Bất chấp các quy định cấm, trên thực tế nhiều chủ đầu tư vẫn thực hiện các giao dịch mua bán nhà hình thành trong tương lai nhưng núp dưới bóng huy động vốn như trước đây. Để hợp thức hóa hợp đồng huy động vốn, một số chủ đầu tư thậm chí còn thu tiền của khách nhưng không cung cấp hóa đơn tài chính theo quy định mà thay bằng phiếu thu thực tế (nhằm tránh những rắc rối thủ tục xử lý thu hồi hóa đơn đã cung cấp cho khách hàng trong giao dịch góp vốn trước đó). Chủ đầu tư cam kết sẽ giữ số tiền cho khách để triển khai xây dựng các hạng mục công trình. Sau này khi dự án đã đảm bảo yếu tố pháp lý chuyển nhượng, hai bên sẽ ký lại hợp đồng mua bán và thanh lý hợp đồng góp vốn.
Tuy nhiên theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28-9-2010 của Bộ Tài chính, việc làm này hoàn toàn bị cấm vì cứ mỗi thời điểm huy động vốn, chủ đầu tư (bên bán) phải xuất hóa đơn cho bên mua dù hình thức giao dịch như thế nào. Do cơ quan thuế chỉ thực hiện thu thuế, đảm bảo tránh thất thu, không có trách nhiệm xem xét tính chất pháp lý giao dịch trước khi thu thuế nên vấn đề này thường xuyên bị bỏ qua.
Một cách lách khác, chủ đầu tư sẽ ký thỏa thuận đặt cọc với khách hàng. Điều khác thường là số tiền đặt cọc do các bên thỏa thuận thường rất lớn, thậm chí giá trị cọc có thể lên tới 50-70% giá trị hợp đồng. Số tiền này vừa là một khoản cọc theo quy định nhưng thực tế đây là cách huy động vốn trá hình. Nhiều khách hàng đặt vấn đề số tiền cọc lớn đến thế thì khi bên mua không tiếp tục thực hiện hợp đồng xử lý cọc sẽ thực hiện như thế nào để tránh rủi ro thiệt thòi cho mình.
Từ thực tế trên cho thấy hàng loạt giao dịch góp vốn hiện nay đang có nguy cơ rơi vào “bẫy kép” do chính các bên tự tạo ra, thậm chí biết nhưng vẫn làm và sẵn sàng gánh chịu các rủi ro, hậu quả. Điều này sẽ làm méo mó các giao dịch pháp lý, góp phần gia tăng các khiếu nại, tranh chấp, cũng như gây thiệt hại cho các bên có liên quan. Thiết nghĩ các cơ quan chức năng nên sớm có quy định giải quyết, tháo gỡ những khó khăn của các nhà đầu tư và người mua nhà. Đặc biệt cần có quy định rõ ràng hơn cách thức xử lý các giao dịch góp vốn phân chia nhà được ký trước thời điểm Nghị định 71 có hiệu lực, có cơ chế hài hòa giữa các quy định bắt buộc, nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong bối cảnh tình hình khó khăn chung như hiện nay.

Friday, February 24, 2012

[Ném đá] Sự thật đằng sau việc giảm giá bất động sản

Bài này mình đọc được ở Diaoc online, họ ghi nguồn từ Vnmedia, mình quay về VNmedia thấy hình như bài đã bị gỡ, chỉ có bản caché vẫn còn.

Nếu như, như hàng đống các bài báo đều lấy ý kiến chuyên gia để nhận định về thị trường, thì ok mình chịu thôi, ý kiến chuyên gia mà. Riêng bài này có tài chính dự án, có NPV IRR, có phân tích độ nhạy... nên máu tài chính lại nổi lên. Mình định lấy số liệu rồi dựng lại mô hình tài chính và phân tích coi tn, vì mấy cái bảng bé quá khó nhìn. Nhưng ý định đó thất bại vì, đầu tiên và trước hết, ko đủ thông số đầu vào.

Các lý do về mặt tài chính khác, nghiêm trọng hơn, đến nỗi mình phải lôi bài này về đây mổ xẻ (số thứ tự theo trình tự từ trên xuống chứ k fải số 1 là vđề nghiêm trọng nhất):

1. Cơ cấu vốn: "nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động". T hiểu "huy động" ở đây là tiền prepaid (trả trước) của người mua, thường thì họ nộp tiền theo tiến độ xây dựng. Đây đc coi là cash-in flow (dòng tiền vào) chứ đâu có nằm trong cơ cấu vốn? 

2. Hiểu sai bản chất NPV. "NPV là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow), tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần ở đây được sử dụng phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư. Chi phí cơ hội chưa đề cập ở đây." điều này sai khủng khiếp. Hiểu 1 cách đơn giản thì: ko có chi phí cơ hội thì ko thể tính được NPV. Để tính được 'giá trị hiện tại' của dòng tiền cần có lãi suất chiết khấu. Và đương nhiên LSCK là chi phí cơ hội rồi. Nếu ko phải vậy thì... chọn mức LSCK đó để cho vui à :)

Phân tích này của mình còn chưa đả động đến tính thực tế của các giả định, nhưng sau khi bài này đã fail về tài chính thì lập luận rồi kết luận gì gì cũng khó thuyết phục lắm.

Copy nguyên cả bài về đây, đề phòng các bạn gỡ mất ko còn gì đọc.

---

Sự thật đằng sau việc giảm giá bất động sản

2/22/2012 1:45:00 PM
Thị trường bất động sản sau thời gian dài giảm mạnh hiện nhiều phân khúc đã chạm đến suất đầu tư. Nhiều chuyên gia nghiên cứu đã đưa ra những phân tích dựa trên cơ sở xác thực về mức độ lỗ, lãi của các dự án bất động sản.

Giá bán đã chạm suất đầu tư?

Thị trường bất động sản khó khăn, để kích cầu nhiều chủ đầu tư bất động sản đã áp dụng các chương trình khuyến mại. Để cạnh tranh nhiều doanh nghiệp liên tục tung ra các chiêu thức giảm giá mới lạ. Trong số, doanh nghiệp có chính sách giảm giá tích cực thì nhiều doanh nghiệp đã áp đưa ra chiến lược giảm giá kiểu "treo đầu dê bán thịt chó" khiến khách hàng thực sự mất niềm tin.

Để có thể hiểu rõ hơn về sự thiệt hơn về lỗ lãi của chủ đầu tư khi áp dụng các chương trình khuyến mại. Ông Phan Thành Mai - Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản đã đưa ra bài toán phân tích.

Với giả thiết Đầu tư Dự án Hỗn hợp chung cư và thương mại ngoài Vành đai 3 của Hà nội, khuôn viên 4 400m2, mật độ xây dựng 50% cao 30 tầng trong đó 7 tầng đế là thương mại, các tầng trên là chung cư. Hệ số sử dụng đất 13 lần. Tổng diện tích sàn xây dựng của thương mại 14 000m2, tổng diện tích sàn xây dựng của chung cư 42 000m2. Hệ số diện tích thương phẩm phần thương mại khoảng 80%, phần chung cư 75%.

Dự án này giá bán sẽ được xác định như thế nào?

Căn cứ khung định mức xây dựng của Bộ Xây Dựng ban hành và đơn giá điều chỉnh theo thực tế của Sở Tài Chính TP Hà nội tại cuối tháng 12/2011, thì suất đầu tư 1 m2 sàn thương mại cao cấp đã có bao gồm thiết bị sẽ khoảng 20,5 triệu đồng/m2, cho chung cư khoảng 17,5 triệu đồng/m2, đã có VAT.

Tổng mức đầu tư Dự án sẽ khoảng 1100 tỷ đồng, trong đó chi phí Xây lắp chiếm 57%, thiết bị 6%, tiền sử dụng đất 8%, các loại tư vấn và quản lý dự án 3%, lãi vay ngân hàng 17%, dự phòng phí 8%, khác 1%. Nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động theo tỷ lệ 15%, 25% và 60%, trong đó giả thiết vay với lãi suất 18%.

Trước năm 2011, với kỳ vọng bán chung cư sau khi có xong móng, khách hàng nộp 40% giá trị căn hộ, xong phần thô 40%, nhận bàn giao nhà nộp 20% còn lại, giả thiết giá bán chung cư là 26 triệu đồng/m2 đã có VAT. Diện tích thương mại cho thuê thu tiền 1 lần cho 47 năm (trừ 3 năm thi công) giả thiết là 34,7 triệu đồng/m2 đã có VAT. Thì các chỉ tiêu Hiệu quả dự án là: Giá trị hiện tại thuần NPV= 59 triệu >0, IRR=31%.

Giá trị hiện tại thuần- NPV là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow), tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần ở đây được sử dụng phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư. Chi phí cơ hội chưa đề cập ở đây.

(Trong trường hợp thị trường tốt như trước 2011, giá bán chung cư được đầu tư tương tự sẽ bán được 30 trđ/m2 hoặc hơn. Trong trường hợp đó các chỉ tiêu Hiệu quả dự án là: NPV= 223,5 triệu>0, IRR=109%).

Về dòng tiền chính của dự án là Đầu tư/ Nhu cầu vốn, Doanh thu, Dòng tiền mặt, cụ thể như sau: Hai năm đầu tiên dự án luôn âm dòng tiền, năm thứ 4 của dự án chủ đầu tư có dòng tiền mặt tốt nhất.

Nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động theo tỷ lệ 15%, 25% và 60%, trong đó giả thiết vay với lãi suất 18%.

Lập 1 Bảng độ nhạy của hiệu quả dự án NPV- Giá trị hiện tại thuần (nếu NPV<0 thì dự án lỗ không hiệu quả) căn cứ 2 biến quan trọng là giá bán (căn cứ thị trường, các chính sách khuyến mãi, giảm giá…) và suất đầu tư (biến động giá vật liệu xây dựng, nhân công, lãi suất ngân hàng…) có thể tổng hợp như sau:

Nếu giá bán giảm đến 10% so dự kiến thì NPV=- 56 752 360<0 dự án lỗ, không hiệu quả; Nếu suất đầu tư tăng 10% so dự kiến thì NPV=-41 422 653<0 dự án lỗ, không hiệu quả.


Hiện nay có trên thị trường, do áp lực trả nợ các khoản vay ngân hàng (trong trường hợp dự án này, nếu vay 25% tổng mức đầu tư, tức là khoảng 222 tỷ đồng trong vòng 3 năm xây dựng với lãi suất 18%/năm, tổng phần gốc và lãi vay lũy tiến thời điểm cao nhất sẽ là 356,8 tỷ đồng, ở thời điểm năm thứ 2 sau khi khởi công xây dựng, cho chúng ta thấy sự phát sinh do lãi vay là rất lớn), các chủ đầu tư đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mãi, giảm giá khác nhau nhằm thu tiền từ khách hàng, thay vì việc tìm các hình thức khác. Các chính sách này đều xuất phát từ nền tảng giá bán của 1 m2 sản phẩm.

Khuyến mại có phải là giảm giá?

Như vậy nếu đối chiếu với các chương trình khuyến mại mà các chủ đầu tư đang áp dụng hiện nay thì khách hàng có thể biết được giá bất động sản hiện nay đang ở mức sau:

Áp chính sách Khuyến mãi: Nếu khách hàng nộp 50% tổng giá trị sản phẩm, sẽ được giảm 10% giá bán; nộp đến 80%, sẽ giảm 15%, nộp 100% sẽ giảm 20% giá bán. Với giả thiết chủ đầu tư bán hết toàn bộ sản phẩm dự án theo loại chuẩn 20% tổng sản phẩm, loại đóng tiền 50% được 30% tổng sản phẩm, loại đóng tiền 80% đươc 30% tổng sản phẩm và loại đóng 100% là 20% tổng sản phẩm. Chúng ta quy đổi tính được giá bán đang giảm khoảng 11.5% trên 1 m2 sản phẩm. So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV <0, dự án không có hiệu quả.


Như vậy các hình thức thu tiền trước và giảm giá bán, nếu không tính toán kỹ, dự án sẽ lỗ. Hình thức này chưa tính đến việc khi thu tiền trước của KH được càng nhiều thì giảm được lãi vay ngân hàng.

Mua nhà được quay xổ số trúng thưởng 1 ô tô 600 triệu đồng; hỗ trợ nội thất 1m2 sàn 2 triệu đồng giá trị nội thất; tặng kỷ nghỉ 100 khách hàng mua nhà đầu tiên giá trị 10 triệu đồng/kỳ nghỉ; tặng phiếu mua sắm 20 triệu đồng cho 100 khách hàng đầu tiên mua nhà…Chúng ta quy đổi tính được ngay tổng giá bán đang giảm khoảng 8% trên 1 m2 sản phẩm, từ tổng giá trị giảm giá.

So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV>0, nhưng hiệu quả dự án rất thấp.


Hỗ trợ của Ngân hàng cho vay lãi suất 12%: Mua nhà sẽ được một Ngân hàng hỗ trợ lãi suất 12% suốt thời gian xây dựng công trình, vay đến 70% giá trị căn hộ. Hỗ trợ cho 30% tổng số khách hàng, cho ai đến mua trước. Về bản chất chủ đầu tư đang bù khoản chênh lệch lãi suất cho khách hàng khoảng 6-8%/năm. Chúng ta quy đổi tính được ngay tổng giá bán đang giảm khoảng 6% trên 1 m2 sản phẩm. So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV>0, nhưng hiệu quả dự án là không đáng kể.


Như vậy trên thực tế hiện nay với các chính sách khuyến mãi đưa ra đã đẩy giá bán thực tế sau khi quy đổi, về gần với suất đầu tư, chủ đầu tư nếu có lãi cũng không đáng kể và nếu không thận trọng với các chính sách khuyến mãi và giảm giá, dự án sẽ lỗ. Có thể nói, đối với khách hàng có nhu cầu sử dụng thật, thì thời điểm bây giờ cũng đã là cơ hội tốt để mua nhà.

DiaOcOnline.vn - Theo Vnmedia

Sunday, December 4, 2011

[Chứng khoán phái sinh] Giới thiệu chung

"Hoàn cảnh ra đời"
Hãy nói lại chuyện 'ngày xưa' 1 tí. Cái thời chỉ có stock cả bond í, portfolio manager chỉ fải đau đầu với mỗi 2 cái rủi ro:

  1. Dao động giá (price fluctuation) (các loại nguyên nhân sâu xa dẫn tới dao động giá thì vô số từ vi mô đến vĩ mô, tạm thời k đụng đến nhé) 
  2. Vỡ nợ (default)

Và hồi đó thì rủi ro đo = standard deviation (độ lệch chuẩn), beta hoặc là xác suất vỡ nợ thôi. Ok?

Câu chuyện kinh điển từ cái thuở xây dựng danh mục đầu tư, chắc ai cũng thuộc: nào, chọn 1 cái portfolio kết hợp giữa tài sản rủi ro (tối ưu) & tài sản phi rủi ro, tại mức e ngại rủi ro (risk tolerance) đã xác định. Và nhỡ may risk tolerance tăng lên, nghĩa là bác muốn rủi ro của danh mục giảm xuống, thì mời bác quay lại điều chỉnh tỷ trọng giữa risk-free & risky assets trong portfolio nhé.

Chuyện ngày xưa rất tiếc là đã hết. Thật đáng buồn là ngày nay chúng ta sống trog thế giới ko chỉ đơn giản là stock & bond mà đã fát sinh thêm vô số thứ và vì thế khi nhỡ may chúng ta muốn thay đổi mức độ rủi ro, thì lại phải đau đầu nghĩ xem làm cách nào trong vô số cách (chứ k fải chỉ có mỗi 1 cách như xưa, chậc). Ví dụ là bảo hiểm.

Cũng giống như thiên hạ làm ra đủ thứ bảo hiểm nhân thọ với chả bảo hiểm phi nhân thọ, thị trường tài chính cũng tự sáng tác ra 1 loại bảo hiểm để tránh rủi ro thiệt hại tài chính (financial loss), dưới dạng các hợp đồng (contracts) và đặt tên cho nó là DERIVATIVES (tiếng việt dịch là "chứng khoán phái sinh").

Tóm lại:
A derivative is a financial instrument that offers a return based on the return of some other underlying asset.
(dịch nôm na: Chứng khoán fái sinh là 1 công cụ tài chính mà tạo ra 1 khoản sinh lời dựa trên khoản sinh lời của một tài sản tham chiếu (từ "tham chiếu" là tự mìh nghĩ ra, k biết Vietnamese academic có dùng từ này ko)).

Đặc điểm cơ bản của derivatives

  • performance của nó fụ thuộc vào performance của underlying asset (gọi tắt là underlying, và tiện thể nói luôn giá giao dịch của underlying đc gọi là cash price hay spot price nhé)
  • vì nó là contract nên:
    • về mặt kỳ hạn: "defined & limited life". Thời gian tồn tại đc xác định/định nghĩa và giới hạn, chứ k fải là ko xác định & vô hạn
    • về mặt quyền & nghĩa vụ của 2 bên: "each does something for other". Vdụ, thỏa thuận (agreement) trong đó 1 bên trả 1 khoản tiền nhất định cho bên kia để nhận được sự phòng vệ cho các khoản lỗ tiềm tàng.
    • về thời điểm phát sinh giao dịch (thực hiện nghĩa vụ) & thời điểm dòng tiền: "each will do st for the other at a later date". Vdụ, ko fải 'tiền trao cháo múc', mà hứa hẹn vào ngày đó thì tiền mới trao & cháo mới múc hoặc tiền trao ngay khi đó còn cháo thì... từ từ, có thể múc hoặc ko.
Ok, giờ xem xét các loại derivatives

Categorized by the markets where it traded:

  • Exchange traded: 
    • Standard terms & features 
    • Traded on an organized derivatives trading facility
  • OTC
    • Any transactions created by 2 parties anywhere else.
Categorized by whether the transaction (ie. Buying & selling underlying asset) occur or not

  • Forward commitments
    • Agreement between 2 parties
    • BUYER agree to buy from SELLER an underlying asset at a future date at a price established at the start
    • Specify contract’s terms & conditions
    • NOTE: each party is subject to the possibility that the other party will default!
  • Contingent claims
    • The payoffs occur if a specific event happens



Exchange traded
OTC
Forward commitments
Futures
Forward contracts
Swap



Contingent claims
Standard options on assets
Interest rate opinions
Warrants
Options on futures
Callable bonds
Convertible bonds
Standard options on assets
Interest rate opinions
Warrants

Callable bonds
Convertible bonds
Exotic options
ABS (assets backed securities – with prepayment options)

Tiếp, về lịch sử fát triển & quy mô của thị trường derivatives: nói sau nhé :">

Rồi, giờ đến Vai trò của derivative markets
Ko cần đọc cũng biết, với tư cách là 1 "insurance contract", tác dụng đầu tiên của derivatives là để phòng ngừa rủi ro.
Thôi đọc để biết đầy đủ nhé:

  1. Price discovery
  2. Risk management
  3. Improve market efficiency for the underlying assets

Tuy lợi ích là nthế nhưg Deri markets k tránh khỏi các chỉ trích, đó là:

  1. very complex - phức tạp qá các bác ko hỉu đc
  2. parties using them don't understand them well - là hệ quả của cái 1. như kiểu là "investor dùng thấy khó là fải thôi, chg' tôi là nhà sản xuất mà còn khó nữa là" :">
  3. mistakenly characterized as a form of legalized gambling: vì các bác k hiểu tính phòng vệ (hedge) nên n` khi bảo nó là đầu cơ (speculate); và k hỉu tính 'tinh hoa' của bảo hiểm nên nói nó giống như đánh bạc. haiz.
Rồi, sau khi nói đông nói tây thì về chính đạo: Các nguyên tắc cơ bản định giá CK phái sinh.

Bài này nói qua thôi, tới các loại cụ tỉ sẽ nói kỹ.
1st, nhắc đến derivatives là fải nói đến arbitrage & law of one price.
Khi có 1 hàng hóa y xì đc bán trên 2 thị trường với 2 giá khác nhau thì arbitrage ngay lập tức xảy ra: mua ở nơi giá thấp & bán ở nơi giá cao (giả sử k fát sinh bất cứ chi fí nào cho việc move hàng hóa nhé). Và hoặc là hàng đã kịp tuồn hết từ nơi giá thấp về nơi giá cao, hoặc là, áp lực mua hàng ở nơi giá thấp đẩy giá ở đây cao lên cũng như lực bán ở nơi giá cao đẩy giá bán ở đây hạ xuống: cuối cùng thì hàng hóa đó chỉ còn 1 giá mà thôi. Và đây gọi là "law of one price".

Tóm lại, sau 1 vài ví dụ loằng ngoằng thì các bạn cần hiểu là arbitrage profit doesn't exist vì thị trường sẽ điều chỉnh giá ngay tức thì. Nói riêng cho derivatives & nói chg cho các côg cụ dù loằng ngoằng phức tạp thế nào: 
"prices are set to eliminate the opportunity to profit at NO risk with no commitment of one's own funds"
Vì thế khi định giá bạn đừng có tính đến arbitrage profit. 
Coi là tiên đề đi, đừng bắt mìh chứng minh nữa mệt r =.=

[Entry này tóm tắt từ R67 in Vol 6 of CFA L1 (2009) + 1 ít tự biên tự diễn] 

Wednesday, November 30, 2011

Thống đốc NHNN "ra mắt"

Mình định share bài này ở G+ thôi nhưng càng đọc càng thấy... hay, k còn cách nào đành lôi lên đây mổ xẻ ;))

Thương hiệu vàng SJC sẽ đổi thành SBV

(TBKTSG Online) - Trong phiên chất vấn tại Quốc hội sáng nay, 25-11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết sắp tới Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) sẽ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước và vàng miếng  SJC sẽ được đổi thành SBV.
Cuối phiên họp hôm qua nhiều đại biểu nêu ý kiến, nếu dự thảo nghị định quản lý hoạt động kinh doanh vàng đang được Chính phủ xin ý kiến các bộ ngành hiện nay được ban hành, hoạt động kinh doanh và sản xuất vàng miếng sẽ chỉ còn Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn với thương hiệu SJC độc quyền trên thị trường. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến các thương hiệu khác và cả thị trường.

Sáng nay Thống đốc Nguyễn Văn Bình trả lời là đã làm việc với Ủy ban Nhân dân TPHCM về việc chuyển Công ty SJC (hiện thuộc UBND TPHCM) sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, để từ đó Nhà nước vừa giữ được yêu cầu độc quyền trong quản lý và sản xuất vàng miếng vừa tiết giảm được chi phí trong sản xuất” [1]. Ông Bình cũng cho biết sẽ chuyển đổi thương hiệu vàng miếng SJC trở thành thương hiệu SBV, là tên viết tắt tiếng Anh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Về sự thiệt thòi của các doanh nghiệp kinh doanh vàng khác, ông Bình cho rằng cần phải “hy sinh vì lợi ích quốc gia và vì yêu cầu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô”.[2]
Theo ông Bình, từ năm 2008 trở lại đây, thị trường thế giới chao đảo, giá vàng nhiều biến động, gây bất ổn kinh tế vĩ mô, trong khi mặt bằng pháp lý để quản lý mặt hàng vàng còn nhiều bất cập. Từ đây, việc xây dựng dự thảo nghị định quản lý kinh doanh vàng với trọng tâm là tập trung sự quản lý, điều tiết, thậm chí độc quyền ở Ngân hàng Nhà nước là cần thiết.
“Siết sản xuất và kinh doanh vàng miếng theo nguyên tắc Nhà nước độc quyền. Nếu có nhóm lợi ích ở chỗ này, thì các nhóm lợi ích đó đi ngược lại lợi ích của quốc gia, không được chấp nhận và không tồn tại trong thời gian tới”[3], ông Bình nói.
"Không có ngân hàng to đến mức không vỡ được"
Liên quan đến khả năng đổ vỡ của một số ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cho rằng, kể cả các ngân hàng được xem là lớn nhất ở Việt Nam thì quy mô và tổng tài sản cũng chỉ bằng cỡ trung bình trong khu vực, do vậy không đến mức không thể đổ vỡ.
Một vấn đề được dư luận quan tâm rất nhiều gần đây và được đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) mang vào hội trường hỏi thống đốc là tại sao chỉ đặt vấn đề tái cơ cấu các ngân hàng nhỏ, yếu kém: “Như vậy ngân hàng lớn không có khả năng đổ vỡ hay sao?”, ông Nghĩa hỏi.
Ông Bình phân tích quy mô và tổng tài sản của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) là lớn nhất nước ta hiện nay cũng chỉ tương đương cỡ ngân hàng trung bình trong khu vực (ngân hàng trung bình ở Đông Nam Á cỡ tổng tài sản khoảng 100 tỉ đô la Mỹ). Ông cho rằng nhiều ngân hàng rất lớn trên thế giới đã đổ vỡ trong thời gian qua, do vậy: “Đại biểu yên tâm là không có chuyện tổ chức tín dụng ở Việt Nam to đến mức không thể đổ vỡ được”[4], ông nói.
Cũng liên quan đến vấn đề lợi nhuận của ngân hàng, ông Bình cho rằng cần có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này. “Với ngân hàng có tổng tài sản 50 đến 60 ngàn tỉ đồng, vốn điều lệ lên từ 3.000 - 5.000 tỉ, còn vốn chủ sở hữu lên tới cả chục ngàn tỉ đồng mà một năm lãi khoảng 1.000 - 2.000 tỉ đồng là không cao ”. Ông còn nói các tổ chức tín dụng chỉ đứng thứ 15 trong tất cả các nhóm các doanh nghiệp về lợi nhuận và điều này thể hiện ở giá cổ phiếu ngân hàng rất thấp so với các doanh nghiệp khác.
Người lãnh đạo ngành ngân hàng còn khuyến cáo người dân cần có cái nhìn đúng khi một số ngân hàng công bố lợi nhuận hàng tháng, hàng quí hay công bố chênh lệch thu nhập và chi phí theo tháng rất cao, thực ra là các chiêu quảng cáo gây hiểu lầm[5]. Lợi nhuận thực tế của ngân hàng chỉ có thể là con số chính xác sau khi lấy doanh thu trừ đi các khoản trích lập dự phòng, trách nhiệm thuế, sau ngày 31/12 hàng năm.

[1]: Tại sao Nhà nước CẦN PHẢI độc quyền quản lý SX vàng miếng? Tiết kiệm chi phí? Cho ai? Nếu là cho doanh nghiệp SX thì ko cần, làm ăn thua lỗ tự người ta bỏ chạy thôi. Nếu là cho XH? Mìh ko hiểu! [2]: Đấy lại "đá" ngay với cái "tiết kiệm chi phí" ở trên nhé. Mà ước gì bác nói câu này với các Tập đoàn, Tổng cty nhỉ.[3]: Độc quyền là xóa bỏ hay tạo ra "nhóm lợi ích qgia"?[4] & [5]: tạm 'suy diễn' ra là: Các bác người dân cứ chuẩn bị tinh thần YÊN TÂM mà nhìn ngân hàng đổ vỡ nhé! Thì đấy, bác bảo là chả có ngân hàng nào too big to fail, rồi lại bảo bọn bank toàn "quảng cáo gây hiểu lầm" => chả đáng tin gì cả, đổ vỡ là tất-lẽ-dĩ-ngẫu!Mà tại sao chỉ so quy mô bank VN với bank ở Mỹ mà ko so quy mô 2 nền kinh tế? Nó như kiểu "Ôi, hạt đường thôi mà? Voi nó liếm cái là hết ngay cả mấy cân í chứ!". Ko thèm đếm xỉa rằng cái đứa đang khệ nệ khênh hạt đường í là con kiến!

Thursday, November 17, 2011

writing guide

Writing process
  • Plan - 5': 
    • make decision 'bout what to write <=> choose your thesis
    • brainstorm 'bout the ideas + arrangement
    • outline
  • Write - 25': 
    • write separate paragraph to develop each major point
    • each point should directly support the thesis
  • Revise - 5':
    • (stupid) grammar (mistake)
    • vocabulary errors
---
Writing structure
  • Introduction (~4 sentences)
    • introduce the general topic of the essay
    • focus on the question  (restate the question by ur own words)
    • state ur thesis
  • Body
    • supporting point 1
      • topic sentence <=> main idea of the paragraph
      • specific examples/reasons/other details supporting the topic sentence
      • additional details
    • supporting point 2
    • ...
  • Conclusion (1-2 sentences): choose 1 of the following:
    • restate the thesis in different words
    • summarize the supporting points
    • draw a conclusion
    • make a prediction
    • make a recommendation