Friday, February 24, 2012

[Ném đá] Sự thật đằng sau việc giảm giá bất động sản

Bài này mình đọc được ở Diaoc online, họ ghi nguồn từ Vnmedia, mình quay về VNmedia thấy hình như bài đã bị gỡ, chỉ có bản caché vẫn còn.

Nếu như, như hàng đống các bài báo đều lấy ý kiến chuyên gia để nhận định về thị trường, thì ok mình chịu thôi, ý kiến chuyên gia mà. Riêng bài này có tài chính dự án, có NPV IRR, có phân tích độ nhạy... nên máu tài chính lại nổi lên. Mình định lấy số liệu rồi dựng lại mô hình tài chính và phân tích coi tn, vì mấy cái bảng bé quá khó nhìn. Nhưng ý định đó thất bại vì, đầu tiên và trước hết, ko đủ thông số đầu vào.

Các lý do về mặt tài chính khác, nghiêm trọng hơn, đến nỗi mình phải lôi bài này về đây mổ xẻ (số thứ tự theo trình tự từ trên xuống chứ k fải số 1 là vđề nghiêm trọng nhất):

1. Cơ cấu vốn: "nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động". T hiểu "huy động" ở đây là tiền prepaid (trả trước) của người mua, thường thì họ nộp tiền theo tiến độ xây dựng. Đây đc coi là cash-in flow (dòng tiền vào) chứ đâu có nằm trong cơ cấu vốn? 

2. Hiểu sai bản chất NPV. "NPV là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow), tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần ở đây được sử dụng phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư. Chi phí cơ hội chưa đề cập ở đây." điều này sai khủng khiếp. Hiểu 1 cách đơn giản thì: ko có chi phí cơ hội thì ko thể tính được NPV. Để tính được 'giá trị hiện tại' của dòng tiền cần có lãi suất chiết khấu. Và đương nhiên LSCK là chi phí cơ hội rồi. Nếu ko phải vậy thì... chọn mức LSCK đó để cho vui à :)

Phân tích này của mình còn chưa đả động đến tính thực tế của các giả định, nhưng sau khi bài này đã fail về tài chính thì lập luận rồi kết luận gì gì cũng khó thuyết phục lắm.

Copy nguyên cả bài về đây, đề phòng các bạn gỡ mất ko còn gì đọc.

---

Sự thật đằng sau việc giảm giá bất động sản

2/22/2012 1:45:00 PM
Thị trường bất động sản sau thời gian dài giảm mạnh hiện nhiều phân khúc đã chạm đến suất đầu tư. Nhiều chuyên gia nghiên cứu đã đưa ra những phân tích dựa trên cơ sở xác thực về mức độ lỗ, lãi của các dự án bất động sản.

Giá bán đã chạm suất đầu tư?

Thị trường bất động sản khó khăn, để kích cầu nhiều chủ đầu tư bất động sản đã áp dụng các chương trình khuyến mại. Để cạnh tranh nhiều doanh nghiệp liên tục tung ra các chiêu thức giảm giá mới lạ. Trong số, doanh nghiệp có chính sách giảm giá tích cực thì nhiều doanh nghiệp đã áp đưa ra chiến lược giảm giá kiểu "treo đầu dê bán thịt chó" khiến khách hàng thực sự mất niềm tin.

Để có thể hiểu rõ hơn về sự thiệt hơn về lỗ lãi của chủ đầu tư khi áp dụng các chương trình khuyến mại. Ông Phan Thành Mai - Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản đã đưa ra bài toán phân tích.

Với giả thiết Đầu tư Dự án Hỗn hợp chung cư và thương mại ngoài Vành đai 3 của Hà nội, khuôn viên 4 400m2, mật độ xây dựng 50% cao 30 tầng trong đó 7 tầng đế là thương mại, các tầng trên là chung cư. Hệ số sử dụng đất 13 lần. Tổng diện tích sàn xây dựng của thương mại 14 000m2, tổng diện tích sàn xây dựng của chung cư 42 000m2. Hệ số diện tích thương phẩm phần thương mại khoảng 80%, phần chung cư 75%.

Dự án này giá bán sẽ được xác định như thế nào?

Căn cứ khung định mức xây dựng của Bộ Xây Dựng ban hành và đơn giá điều chỉnh theo thực tế của Sở Tài Chính TP Hà nội tại cuối tháng 12/2011, thì suất đầu tư 1 m2 sàn thương mại cao cấp đã có bao gồm thiết bị sẽ khoảng 20,5 triệu đồng/m2, cho chung cư khoảng 17,5 triệu đồng/m2, đã có VAT.

Tổng mức đầu tư Dự án sẽ khoảng 1100 tỷ đồng, trong đó chi phí Xây lắp chiếm 57%, thiết bị 6%, tiền sử dụng đất 8%, các loại tư vấn và quản lý dự án 3%, lãi vay ngân hàng 17%, dự phòng phí 8%, khác 1%. Nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động theo tỷ lệ 15%, 25% và 60%, trong đó giả thiết vay với lãi suất 18%.

Trước năm 2011, với kỳ vọng bán chung cư sau khi có xong móng, khách hàng nộp 40% giá trị căn hộ, xong phần thô 40%, nhận bàn giao nhà nộp 20% còn lại, giả thiết giá bán chung cư là 26 triệu đồng/m2 đã có VAT. Diện tích thương mại cho thuê thu tiền 1 lần cho 47 năm (trừ 3 năm thi công) giả thiết là 34,7 triệu đồng/m2 đã có VAT. Thì các chỉ tiêu Hiệu quả dự án là: Giá trị hiện tại thuần NPV= 59 triệu >0, IRR=31%.

Giá trị hiện tại thuần- NPV là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow), tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần ở đây được sử dụng phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư. Chi phí cơ hội chưa đề cập ở đây.

(Trong trường hợp thị trường tốt như trước 2011, giá bán chung cư được đầu tư tương tự sẽ bán được 30 trđ/m2 hoặc hơn. Trong trường hợp đó các chỉ tiêu Hiệu quả dự án là: NPV= 223,5 triệu>0, IRR=109%).

Về dòng tiền chính của dự án là Đầu tư/ Nhu cầu vốn, Doanh thu, Dòng tiền mặt, cụ thể như sau: Hai năm đầu tiên dự án luôn âm dòng tiền, năm thứ 4 của dự án chủ đầu tư có dòng tiền mặt tốt nhất.

Nguồn vốn sử dụng từ 3 nguồn: tự có, vay, huy động theo tỷ lệ 15%, 25% và 60%, trong đó giả thiết vay với lãi suất 18%.

Lập 1 Bảng độ nhạy của hiệu quả dự án NPV- Giá trị hiện tại thuần (nếu NPV<0 thì dự án lỗ không hiệu quả) căn cứ 2 biến quan trọng là giá bán (căn cứ thị trường, các chính sách khuyến mãi, giảm giá…) và suất đầu tư (biến động giá vật liệu xây dựng, nhân công, lãi suất ngân hàng…) có thể tổng hợp như sau:

Nếu giá bán giảm đến 10% so dự kiến thì NPV=- 56 752 360<0 dự án lỗ, không hiệu quả; Nếu suất đầu tư tăng 10% so dự kiến thì NPV=-41 422 653<0 dự án lỗ, không hiệu quả.


Hiện nay có trên thị trường, do áp lực trả nợ các khoản vay ngân hàng (trong trường hợp dự án này, nếu vay 25% tổng mức đầu tư, tức là khoảng 222 tỷ đồng trong vòng 3 năm xây dựng với lãi suất 18%/năm, tổng phần gốc và lãi vay lũy tiến thời điểm cao nhất sẽ là 356,8 tỷ đồng, ở thời điểm năm thứ 2 sau khi khởi công xây dựng, cho chúng ta thấy sự phát sinh do lãi vay là rất lớn), các chủ đầu tư đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mãi, giảm giá khác nhau nhằm thu tiền từ khách hàng, thay vì việc tìm các hình thức khác. Các chính sách này đều xuất phát từ nền tảng giá bán của 1 m2 sản phẩm.

Khuyến mại có phải là giảm giá?

Như vậy nếu đối chiếu với các chương trình khuyến mại mà các chủ đầu tư đang áp dụng hiện nay thì khách hàng có thể biết được giá bất động sản hiện nay đang ở mức sau:

Áp chính sách Khuyến mãi: Nếu khách hàng nộp 50% tổng giá trị sản phẩm, sẽ được giảm 10% giá bán; nộp đến 80%, sẽ giảm 15%, nộp 100% sẽ giảm 20% giá bán. Với giả thiết chủ đầu tư bán hết toàn bộ sản phẩm dự án theo loại chuẩn 20% tổng sản phẩm, loại đóng tiền 50% được 30% tổng sản phẩm, loại đóng tiền 80% đươc 30% tổng sản phẩm và loại đóng 100% là 20% tổng sản phẩm. Chúng ta quy đổi tính được giá bán đang giảm khoảng 11.5% trên 1 m2 sản phẩm. So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV <0, dự án không có hiệu quả.


Như vậy các hình thức thu tiền trước và giảm giá bán, nếu không tính toán kỹ, dự án sẽ lỗ. Hình thức này chưa tính đến việc khi thu tiền trước của KH được càng nhiều thì giảm được lãi vay ngân hàng.

Mua nhà được quay xổ số trúng thưởng 1 ô tô 600 triệu đồng; hỗ trợ nội thất 1m2 sàn 2 triệu đồng giá trị nội thất; tặng kỷ nghỉ 100 khách hàng mua nhà đầu tiên giá trị 10 triệu đồng/kỳ nghỉ; tặng phiếu mua sắm 20 triệu đồng cho 100 khách hàng đầu tiên mua nhà…Chúng ta quy đổi tính được ngay tổng giá bán đang giảm khoảng 8% trên 1 m2 sản phẩm, từ tổng giá trị giảm giá.

So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV>0, nhưng hiệu quả dự án rất thấp.


Hỗ trợ của Ngân hàng cho vay lãi suất 12%: Mua nhà sẽ được một Ngân hàng hỗ trợ lãi suất 12% suốt thời gian xây dựng công trình, vay đến 70% giá trị căn hộ. Hỗ trợ cho 30% tổng số khách hàng, cho ai đến mua trước. Về bản chất chủ đầu tư đang bù khoản chênh lệch lãi suất cho khách hàng khoảng 6-8%/năm. Chúng ta quy đổi tính được ngay tổng giá bán đang giảm khoảng 6% trên 1 m2 sản phẩm. So sánh Bảng độ nhạy NPV thì NPV>0, nhưng hiệu quả dự án là không đáng kể.


Như vậy trên thực tế hiện nay với các chính sách khuyến mãi đưa ra đã đẩy giá bán thực tế sau khi quy đổi, về gần với suất đầu tư, chủ đầu tư nếu có lãi cũng không đáng kể và nếu không thận trọng với các chính sách khuyến mãi và giảm giá, dự án sẽ lỗ. Có thể nói, đối với khách hàng có nhu cầu sử dụng thật, thì thời điểm bây giờ cũng đã là cơ hội tốt để mua nhà.

DiaOcOnline.vn - Theo Vnmedia

Sunday, December 4, 2011

[Chứng khoán phái sinh] Giới thiệu chung

"Hoàn cảnh ra đời"
Hãy nói lại chuyện 'ngày xưa' 1 tí. Cái thời chỉ có stock cả bond í, portfolio manager chỉ fải đau đầu với mỗi 2 cái rủi ro:

  1. Dao động giá (price fluctuation) (các loại nguyên nhân sâu xa dẫn tới dao động giá thì vô số từ vi mô đến vĩ mô, tạm thời k đụng đến nhé) 
  2. Vỡ nợ (default)

Và hồi đó thì rủi ro đo = standard deviation (độ lệch chuẩn), beta hoặc là xác suất vỡ nợ thôi. Ok?

Câu chuyện kinh điển từ cái thuở xây dựng danh mục đầu tư, chắc ai cũng thuộc: nào, chọn 1 cái portfolio kết hợp giữa tài sản rủi ro (tối ưu) & tài sản phi rủi ro, tại mức e ngại rủi ro (risk tolerance) đã xác định. Và nhỡ may risk tolerance tăng lên, nghĩa là bác muốn rủi ro của danh mục giảm xuống, thì mời bác quay lại điều chỉnh tỷ trọng giữa risk-free & risky assets trong portfolio nhé.

Chuyện ngày xưa rất tiếc là đã hết. Thật đáng buồn là ngày nay chúng ta sống trog thế giới ko chỉ đơn giản là stock & bond mà đã fát sinh thêm vô số thứ và vì thế khi nhỡ may chúng ta muốn thay đổi mức độ rủi ro, thì lại phải đau đầu nghĩ xem làm cách nào trong vô số cách (chứ k fải chỉ có mỗi 1 cách như xưa, chậc). Ví dụ là bảo hiểm.

Cũng giống như thiên hạ làm ra đủ thứ bảo hiểm nhân thọ với chả bảo hiểm phi nhân thọ, thị trường tài chính cũng tự sáng tác ra 1 loại bảo hiểm để tránh rủi ro thiệt hại tài chính (financial loss), dưới dạng các hợp đồng (contracts) và đặt tên cho nó là DERIVATIVES (tiếng việt dịch là "chứng khoán phái sinh").

Tóm lại:
A derivative is a financial instrument that offers a return based on the return of some other underlying asset.
(dịch nôm na: Chứng khoán fái sinh là 1 công cụ tài chính mà tạo ra 1 khoản sinh lời dựa trên khoản sinh lời của một tài sản tham chiếu (từ "tham chiếu" là tự mìh nghĩ ra, k biết Vietnamese academic có dùng từ này ko)).

Đặc điểm cơ bản của derivatives

  • performance của nó fụ thuộc vào performance của underlying asset (gọi tắt là underlying, và tiện thể nói luôn giá giao dịch của underlying đc gọi là cash price hay spot price nhé)
  • vì nó là contract nên:
    • về mặt kỳ hạn: "defined & limited life". Thời gian tồn tại đc xác định/định nghĩa và giới hạn, chứ k fải là ko xác định & vô hạn
    • về mặt quyền & nghĩa vụ của 2 bên: "each does something for other". Vdụ, thỏa thuận (agreement) trong đó 1 bên trả 1 khoản tiền nhất định cho bên kia để nhận được sự phòng vệ cho các khoản lỗ tiềm tàng.
    • về thời điểm phát sinh giao dịch (thực hiện nghĩa vụ) & thời điểm dòng tiền: "each will do st for the other at a later date". Vdụ, ko fải 'tiền trao cháo múc', mà hứa hẹn vào ngày đó thì tiền mới trao & cháo mới múc hoặc tiền trao ngay khi đó còn cháo thì... từ từ, có thể múc hoặc ko.
Ok, giờ xem xét các loại derivatives

Categorized by the markets where it traded:

  • Exchange traded: 
    • Standard terms & features 
    • Traded on an organized derivatives trading facility
  • OTC
    • Any transactions created by 2 parties anywhere else.
Categorized by whether the transaction (ie. Buying & selling underlying asset) occur or not

  • Forward commitments
    • Agreement between 2 parties
    • BUYER agree to buy from SELLER an underlying asset at a future date at a price established at the start
    • Specify contract’s terms & conditions
    • NOTE: each party is subject to the possibility that the other party will default!
  • Contingent claims
    • The payoffs occur if a specific event happens



Exchange traded
OTC
Forward commitments
Futures
Forward contracts
Swap



Contingent claims
Standard options on assets
Interest rate opinions
Warrants
Options on futures
Callable bonds
Convertible bonds
Standard options on assets
Interest rate opinions
Warrants

Callable bonds
Convertible bonds
Exotic options
ABS (assets backed securities – with prepayment options)

Tiếp, về lịch sử fát triển & quy mô của thị trường derivatives: nói sau nhé :">

Rồi, giờ đến Vai trò của derivative markets
Ko cần đọc cũng biết, với tư cách là 1 "insurance contract", tác dụng đầu tiên của derivatives là để phòng ngừa rủi ro.
Thôi đọc để biết đầy đủ nhé:

  1. Price discovery
  2. Risk management
  3. Improve market efficiency for the underlying assets

Tuy lợi ích là nthế nhưg Deri markets k tránh khỏi các chỉ trích, đó là:

  1. very complex - phức tạp qá các bác ko hỉu đc
  2. parties using them don't understand them well - là hệ quả của cái 1. như kiểu là "investor dùng thấy khó là fải thôi, chg' tôi là nhà sản xuất mà còn khó nữa là" :">
  3. mistakenly characterized as a form of legalized gambling: vì các bác k hiểu tính phòng vệ (hedge) nên n` khi bảo nó là đầu cơ (speculate); và k hỉu tính 'tinh hoa' của bảo hiểm nên nói nó giống như đánh bạc. haiz.
Rồi, sau khi nói đông nói tây thì về chính đạo: Các nguyên tắc cơ bản định giá CK phái sinh.

Bài này nói qua thôi, tới các loại cụ tỉ sẽ nói kỹ.
1st, nhắc đến derivatives là fải nói đến arbitrage & law of one price.
Khi có 1 hàng hóa y xì đc bán trên 2 thị trường với 2 giá khác nhau thì arbitrage ngay lập tức xảy ra: mua ở nơi giá thấp & bán ở nơi giá cao (giả sử k fát sinh bất cứ chi fí nào cho việc move hàng hóa nhé). Và hoặc là hàng đã kịp tuồn hết từ nơi giá thấp về nơi giá cao, hoặc là, áp lực mua hàng ở nơi giá thấp đẩy giá ở đây cao lên cũng như lực bán ở nơi giá cao đẩy giá bán ở đây hạ xuống: cuối cùng thì hàng hóa đó chỉ còn 1 giá mà thôi. Và đây gọi là "law of one price".

Tóm lại, sau 1 vài ví dụ loằng ngoằng thì các bạn cần hiểu là arbitrage profit doesn't exist vì thị trường sẽ điều chỉnh giá ngay tức thì. Nói riêng cho derivatives & nói chg cho các côg cụ dù loằng ngoằng phức tạp thế nào: 
"prices are set to eliminate the opportunity to profit at NO risk with no commitment of one's own funds"
Vì thế khi định giá bạn đừng có tính đến arbitrage profit. 
Coi là tiên đề đi, đừng bắt mìh chứng minh nữa mệt r =.=

[Entry này tóm tắt từ R67 in Vol 6 of CFA L1 (2009) + 1 ít tự biên tự diễn] 

Wednesday, November 30, 2011

Thống đốc NHNN "ra mắt"

Mình định share bài này ở G+ thôi nhưng càng đọc càng thấy... hay, k còn cách nào đành lôi lên đây mổ xẻ ;))

Thương hiệu vàng SJC sẽ đổi thành SBV

(TBKTSG Online) - Trong phiên chất vấn tại Quốc hội sáng nay, 25-11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết sắp tới Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) sẽ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước và vàng miếng  SJC sẽ được đổi thành SBV.
Cuối phiên họp hôm qua nhiều đại biểu nêu ý kiến, nếu dự thảo nghị định quản lý hoạt động kinh doanh vàng đang được Chính phủ xin ý kiến các bộ ngành hiện nay được ban hành, hoạt động kinh doanh và sản xuất vàng miếng sẽ chỉ còn Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn với thương hiệu SJC độc quyền trên thị trường. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến các thương hiệu khác và cả thị trường.

Sáng nay Thống đốc Nguyễn Văn Bình trả lời là đã làm việc với Ủy ban Nhân dân TPHCM về việc chuyển Công ty SJC (hiện thuộc UBND TPHCM) sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, để từ đó Nhà nước vừa giữ được yêu cầu độc quyền trong quản lý và sản xuất vàng miếng vừa tiết giảm được chi phí trong sản xuất” [1]. Ông Bình cũng cho biết sẽ chuyển đổi thương hiệu vàng miếng SJC trở thành thương hiệu SBV, là tên viết tắt tiếng Anh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Về sự thiệt thòi của các doanh nghiệp kinh doanh vàng khác, ông Bình cho rằng cần phải “hy sinh vì lợi ích quốc gia và vì yêu cầu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô”.[2]
Theo ông Bình, từ năm 2008 trở lại đây, thị trường thế giới chao đảo, giá vàng nhiều biến động, gây bất ổn kinh tế vĩ mô, trong khi mặt bằng pháp lý để quản lý mặt hàng vàng còn nhiều bất cập. Từ đây, việc xây dựng dự thảo nghị định quản lý kinh doanh vàng với trọng tâm là tập trung sự quản lý, điều tiết, thậm chí độc quyền ở Ngân hàng Nhà nước là cần thiết.
“Siết sản xuất và kinh doanh vàng miếng theo nguyên tắc Nhà nước độc quyền. Nếu có nhóm lợi ích ở chỗ này, thì các nhóm lợi ích đó đi ngược lại lợi ích của quốc gia, không được chấp nhận và không tồn tại trong thời gian tới”[3], ông Bình nói.
"Không có ngân hàng to đến mức không vỡ được"
Liên quan đến khả năng đổ vỡ của một số ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cho rằng, kể cả các ngân hàng được xem là lớn nhất ở Việt Nam thì quy mô và tổng tài sản cũng chỉ bằng cỡ trung bình trong khu vực, do vậy không đến mức không thể đổ vỡ.
Một vấn đề được dư luận quan tâm rất nhiều gần đây và được đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) mang vào hội trường hỏi thống đốc là tại sao chỉ đặt vấn đề tái cơ cấu các ngân hàng nhỏ, yếu kém: “Như vậy ngân hàng lớn không có khả năng đổ vỡ hay sao?”, ông Nghĩa hỏi.
Ông Bình phân tích quy mô và tổng tài sản của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) là lớn nhất nước ta hiện nay cũng chỉ tương đương cỡ ngân hàng trung bình trong khu vực (ngân hàng trung bình ở Đông Nam Á cỡ tổng tài sản khoảng 100 tỉ đô la Mỹ). Ông cho rằng nhiều ngân hàng rất lớn trên thế giới đã đổ vỡ trong thời gian qua, do vậy: “Đại biểu yên tâm là không có chuyện tổ chức tín dụng ở Việt Nam to đến mức không thể đổ vỡ được”[4], ông nói.
Cũng liên quan đến vấn đề lợi nhuận của ngân hàng, ông Bình cho rằng cần có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này. “Với ngân hàng có tổng tài sản 50 đến 60 ngàn tỉ đồng, vốn điều lệ lên từ 3.000 - 5.000 tỉ, còn vốn chủ sở hữu lên tới cả chục ngàn tỉ đồng mà một năm lãi khoảng 1.000 - 2.000 tỉ đồng là không cao ”. Ông còn nói các tổ chức tín dụng chỉ đứng thứ 15 trong tất cả các nhóm các doanh nghiệp về lợi nhuận và điều này thể hiện ở giá cổ phiếu ngân hàng rất thấp so với các doanh nghiệp khác.
Người lãnh đạo ngành ngân hàng còn khuyến cáo người dân cần có cái nhìn đúng khi một số ngân hàng công bố lợi nhuận hàng tháng, hàng quí hay công bố chênh lệch thu nhập và chi phí theo tháng rất cao, thực ra là các chiêu quảng cáo gây hiểu lầm[5]. Lợi nhuận thực tế của ngân hàng chỉ có thể là con số chính xác sau khi lấy doanh thu trừ đi các khoản trích lập dự phòng, trách nhiệm thuế, sau ngày 31/12 hàng năm.

[1]: Tại sao Nhà nước CẦN PHẢI độc quyền quản lý SX vàng miếng? Tiết kiệm chi phí? Cho ai? Nếu là cho doanh nghiệp SX thì ko cần, làm ăn thua lỗ tự người ta bỏ chạy thôi. Nếu là cho XH? Mìh ko hiểu! [2]: Đấy lại "đá" ngay với cái "tiết kiệm chi phí" ở trên nhé. Mà ước gì bác nói câu này với các Tập đoàn, Tổng cty nhỉ.[3]: Độc quyền là xóa bỏ hay tạo ra "nhóm lợi ích qgia"?[4] & [5]: tạm 'suy diễn' ra là: Các bác người dân cứ chuẩn bị tinh thần YÊN TÂM mà nhìn ngân hàng đổ vỡ nhé! Thì đấy, bác bảo là chả có ngân hàng nào too big to fail, rồi lại bảo bọn bank toàn "quảng cáo gây hiểu lầm" => chả đáng tin gì cả, đổ vỡ là tất-lẽ-dĩ-ngẫu!Mà tại sao chỉ so quy mô bank VN với bank ở Mỹ mà ko so quy mô 2 nền kinh tế? Nó như kiểu "Ôi, hạt đường thôi mà? Voi nó liếm cái là hết ngay cả mấy cân í chứ!". Ko thèm đếm xỉa rằng cái đứa đang khệ nệ khênh hạt đường í là con kiến!

Thursday, November 17, 2011

writing guide

Writing process
  • Plan - 5': 
    • make decision 'bout what to write <=> choose your thesis
    • brainstorm 'bout the ideas + arrangement
    • outline
  • Write - 25': 
    • write separate paragraph to develop each major point
    • each point should directly support the thesis
  • Revise - 5':
    • (stupid) grammar (mistake)
    • vocabulary errors
---
Writing structure
  • Introduction (~4 sentences)
    • introduce the general topic of the essay
    • focus on the question  (restate the question by ur own words)
    • state ur thesis
  • Body
    • supporting point 1
      • topic sentence <=> main idea of the paragraph
      • specific examples/reasons/other details supporting the topic sentence
      • additional details
    • supporting point 2
    • ...
  • Conclusion (1-2 sentences): choose 1 of the following:
    • restate the thesis in different words
    • summarize the supporting points
    • draw a conclusion
    • make a prediction
    • make a recommendation

Saturday, November 12, 2011

Project MUSE - ASEAN Economic Bulletin - Avoiding the Middle-Income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation in Vietnam

Project MUSE - ASEAN Economic Bulletin - Avoiding the Middle-Income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation in Vietnam: "- Sent using Google Toolbar"

Search về bẫy thu nhập trung bình - "middle income trap" thì tìm đc cái này. Mìh đag đọc dở và thấy hay cực. Đọc nốt rồi sẽ viết tóm tắt hoặc gì đó. Đặt cục gạch nhé.

Một đoạn ví dụ:
monozukuri is manufacturing for the primary purpose of achieving customer satisfaction through high quality in the spirit of a proud & dedicated artisan, rather than just making profit
(11 Aug 2011)
---
updated @ 12th Nov 2011: dã man, 3 tháng để 'ngẫm' xog cái báo cáo +______+
Đây là version đã được 'ném đá' (note với highlight đủ kiểu).

Kết luận: báo cáo ~ 20 pages, đc 10 pages đầu hay, đoạn sau nói về thể chế chính sách điều hành các thứ... => mìh rất ngu. Đọc ko thấy thích. Với cả 1 vấn đề nữa (có lẽ giải thích cho việc vì sao mìh ko thích) đấy là các solution - và thực ra cả problem - chả có gì mới. Nghĩa là các bác researchers đều chỉ ra những điểm đó và bảo là phải thế lọ thế chai (tất nhiên có các trường phái khác nhau với các tư duy cổ quái khác nhau nhưg đây chỉ nói đến các bác mà mìh đồng tình). Nhưng nhưng nhưng nhưng nhưng nhưng. Nó giống như kiểu: "Bao giờ trạch đẻ ngọn đa?" í. Người ta biết thế nhưng có làm thế đâu!

Báo cáo này đã chỉ ra:
Trong việc ban hành chính sách của VN có 2 vđề:
- Ko có sự 'interact' giữa các thành phần kinh tế - nói chg là người 'bị' tác động của luật - với người làm luật.
- Ko có sự 'interact' giữa các bộ ngành. mạnh ai nấy làm
(ấy là chưa nói đến 'mạnh vùng nào vùng í làm' nhé)
Vì thế chính sách ban hành rất thiếu tính thực thi (ra 1 cái luật 3 ngày lại sửa, biết rồi khổ lắm nói mãi!)
Cải cách hành chính, thu gọn bộ máy hành chính cồng kềnh, nâng cao chất lượng nhân sự, ngăn chặn chảy máu chất xám... ôi - có gì mới ko???

Có mấy câu hỏi đặt ra - mà đọc xog bài này ko giải quyết đc: "là 1 người bình thường, tôi đối phó với middle income trap ntn? tôi fải hành xử ra sao trong cái trời đất này?"

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam

Disclaimer: Entry này là 'food for thought' của mìh, ko có tác dụng bình luận, nhận định, phán đoán, đưa ra cảnh báo hay khuyến nghị.

1. Những phát súng đầu tiên (Nói luôn là nó là "đầu tiên" đối với mìh, 1 đứa đứng từ ngoài nhìn vào, và đứng từ ngoài kha khá lâu rồi giờ mới lại nhìn vào, nhé!)
BIDV hỗ-trợ-thanh-khoản Bắc Á & GP Bank
tiếp:
BIDV cam kết hỗ trợ ngân hàng Đệ Nhất

Hôm trc đọc bài đầu tiên thì hơi giật mìh, hnay đọc tiếp bài thứ 2 thì tỉnh cả ngủ.
- Những dấu hiệu đầu tiên cho công cuộc sáp nhập ngân hàng? Sao toàn BIDV??? 1 mình BIDV ôm 3 ngân hàng kia?
- Khủng hoảng thanh khoản? Những ngân hàng "được" nêu tên NHẬN hỗ trợ thanh khoản thế kia - ai gửi tiền nữa ko?

- Và thực ra đây là phần nổi của tảng băng chìm. Phần chìm thì ko biết đc. SBV bật đèn xanh cho thông tin này đc public như thế sao?
- Lọ mọ vào website của cả 3 bank này xem cơ cấu cổ đông, cổ đông chiến lược. Nhưg ko có thông tin. Haiz.


2. Lục lọi vụ này. Có báo cáo khá hay của Stox Plus: nêu thực trạng + bàn giải pháp, mở ngoặc là giải pháp được tham khảo và đúc kết từ các vụ khủng hoảng & xử lý khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu. Bản original ở đây và bản dính kèm vài comments + highlight của mìh ở đây. Có vài con số hay. Mìh ko lôi ra đây đâu, các bạn chịu khó đọc đi.


3. Thực ra để dọn đường cho vụ này thì fải lần giở về trước. Đầu năm 2010 đã có thông tư 04/2010/TT-NHNN v/v sáp nhập - hợp nhất - mua lại tổ chức tín dụng. Nhưng mà ngoài quy định cực kỳ cụ tỉ về số bộ hồ sơ với lại 1 bộ hồ sơ cần những gì thì... chả còn gì nữa. Thực ra ở tầm thông tư thì có thể kỳ vọng đc cái gì? Nhưng rõ ràng mìh kỳ vọng nhiều thứ chứ ko fải chỉ là số bộ hồ sơ!

4. Nhưng mìh đồng ý với báo cáo của Stox: việc 'giải tán' các ngân hàng nhỏ và 'tống khứ' nó vào các ngân hàng to k fải là giải fáp đầu tiên và duy nhất.

...
Nghển cổ chờ các diễn biến tiếp theo.