Wednesday, October 26, 2011
Mổ xẻ 1 bài báo
Quyết liệt với vốn trái phiếu
(TBKTSG) - Rất nhiều báo cáo, đánh giá của Chính phủ, của Bộ Kế hoạch và Đầu tư liên tục trong 10 ngày gần đây cho thấy cần phải áp dụng hàng loạt các biện pháp “cưỡng chế” mạnh vì vốn trái phiếu chính phủ đã vượt xa sức chịu đựng của nền kinh tế.
Bước nhảy vọt của vốn trái phiếu
Tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 9 của Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam đã đưa ra những con số giật mình: trái phiếu chính phủ (TPCP) năm nay dự kiến phát hành 45.000 tỉ đồng. Nhưng tổng hợp nhu cầu vốn cho giai đoạn 2011-2015 (tính cả trượt giá) là 500.000 tỉ đồng. Điều này là không thể trong điều kiện nền kinh tế tập trung hàng đầu cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. <=== vì sao "giật mình", vì sao "là ko thể"???
Thế nhưng báo cáo mới nhất của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh công bố hôm 30-9 tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy dòng vốn này đã có những dấu hiệu “nước tràn đê”, hơn cả những gì ông Đam đã công bố. Số liệu của báo cáo được Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội dẫn ra cho thấy, tổng mức vốn TPCP cho giai đoạn 2003-2010 được phê duyệt là 63.064 tỉ đồng. Sau nhiều lần điều chỉnh danh mục, tổng mức đầu tư, nhu cầu vốn đã lên đến 641.770 tỉ đồng vào cuối năm nay, gấp 10,17 lần con số đề ra. Và thực tế, trong bảy năm (2003-2010) đã bố trí 236.770 tỉ đồng, tức là mức chi thực tế đã gấp 3,75 lần dự tính. Kết quả ra sao? Dự kiến đến hết năm nay có 1.952 dự án và tiểu dự án được hoàn thành, nhưng số dự án còn dở dang lại lớn hơn: 2.343 dự án. Và chỉ để hoàn thành các dự án trong danh mục nêu trên, không tính thêm các dự án mới, trong năm năm tới (2011-2015) cần bố trí thêm 405.000 tỉ đồng nhu cầu vốn. Nếu tính cả trượt giá sau năm năm là tròn 500.000 tỉ đồng.
Mỗi con số ngày một xa cái đích ban đầu. Nhớ lại, hồi tháng 10-2010, Chính phủ đã trình một danh mục vốn trái phiếu năm năm và được Quốc hội cho phép phát hành 315.000 tỉ đồng tiền vốn, nay dự kiến đội thêm 185.000 tỉ đồng nữa. Như vậy là nới lỏng đầu tư công, trái với yêu cầu của Nghị quyết 11. Vì vậy, Ủy ban Tài chính ngân sách đã thống nhất với Chính phủ chỉ bố trí vốn TPCP cho giai đoạn 2011-2015 tối đa là 225.000 tỉ đồng (bằng 40% nhu cầu), tương ứng với 45.000 tỉ đồng/năm. Quyết định trên yêu cầu phải được thực hiện nghiêm vì các cân đối vĩ mô còn rất căng thẳng, tình hình nợ công ngày một cao. Theo cơ quan này, không thể cân đối đủ nguồn cho nhu cầu vốn như vậy và nó có thể gây bất ổn cho kinh tế vĩ mô.
Phải đóng cửa hàng loạt dự án
Tình hình sử dụng vốn trái phiếu căng thẳng quá mức dẫn đến việc Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phải đề xuất đưa nguồn vốn TPCP vào cân đối ngân sách hàng năm, bắt đầu từ năm 2013. Lộ trình đề xuất dường như hơi trễ vì Luật Quản lý nợ công có hiệu lực từ năm 2010 đã ghi rõ: “Quốc hội quyết định tổng mức, cơ cấu vay và trả nợ hàng năm của Chính phủ gắn với dự toán ngân sách ”.
Với tình hình sử dụng vốn trái phiếu hiện nay, người ta có quyền đặt câu hỏi là kỷ luật ngân sách có được thực thi nghiêm túc không khi mà việc rà soát các dự án đầu tư từ trái phiếu, theo Nghị quyết 11, thực chất chỉ là giãn tiến độ các dự án. Trong số nhiều dự án mới khởi công, có đến 333 dự án không thuộc danh mục dùng vốn năm nay đã “lọt cửa”. Nhiều dự án được điều chỉnh mục tiêu, tăng quy mô và tổng mức đầu tư trong khi không được phép. Ủy ban Tài chính ngân sách yêu cầu Chính phủ phải báo cáo rõ về số dự án này, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, địa phương và thu hồi toàn bộ vốn trái phiếu đã bố trí sai trong năm 2011 về cho ngân sách. Song, Chính phủ chỉ đề xuất việc thu hồi vốn và không đề cập đến các vấn đề còn lại (Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011). Vậy ai sẽ là người thực hiện yêu cầu thu hồi vốn? Ai sẽ là nơi làm rõ trách nhiệm của các địa phương, tổ chức, cá nhân cấp vốn sai mục đích? Điều này là không thể bỏ qua.
Danh mục các loại dự án không được bố trí vốn TPCP thời gian tới
1. Các dự án mở rộng, cải tạo sân bay chưa cần thiết, các dự án hạ tầng chưa thật sự cấp bách (đường Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn Đông...)
2. Các dự án nhóm B, nhóm C thời hạn thực hiện quá hai năm so với quy định.
3. Các dự án được Thủ tướng Chính phủ giao vốn thực hiện trong nhiều năm nhưng kế hoạch 2011 không được các bộ, ngành bố trí vốn.
4. Các dự án không giải phóng được mặt bằng hoặc giải phóng mặt bằng quá ba năm.
5. Các dự án có tổng mức đầu tư từ 1.000-2.000 tỉ đồng nhưng mới bố trí được dưới 15% tổng mức đầu tư.
6. Các dự án có khả năng chuyển đổi hình thức đầu tư để thu hồi được vốn như BOT, BT, PPP (phần vốn TPCP đã đầu tư và vốn doanh nghiệp bỏ thêm để hoàn thành) đối với các dự án giao thông, bệnh viện, ký túc xá sinh viên ở những nơi phát triển như Hà Nội, TPHCM, Bà Rịa-Vũng Tàu...
(Nguồn: Đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Theo một báo cáo hôm 23-9 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, được thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ, về “Nguyên nhân lạm phát và các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới”, lần đầu tiên bộ chỉ thẳng lạm phát do cầu kéo, xuất phát từ việc bội chi ngân sách (tính cả vốn trái phiếu), không phải là những con số đẹp như đã từng công bố. Nếu tính cả vốn trái phiếu chính phủ thì tỷ lệ bội chi cao hơn nhiều. Năm 2008, bội chi công bố là 4,6% (nếu tính cả vốn trái phiếu lên đến 6,4%), năm 2009: 6,9% (thực tế 10,1%); năm 2010: 5,6% (thực tế 8,7%). Tổng cầu cao như vậy ngoài việc gây áp lực lên mặt bằng giá còn ảnh hưởng đến toàn thị trường, đẩy lãi suất tăng cao trong vài năm gần đây.
Wednesday, August 3, 2011
Thursday, June 9, 2011
Đọc lại Corporate governance (quản trị doanh nghiệp nội bộ/ quản trị xung đột)
[R48/Cur 4 - CFA L1 2009]
(mìh hơi đảo lộn thứ tự trong sách nhé)
Các khái niệm
Corp. gov: hệ thống kiểm soát và quy trình nội bộ để quản lý doanh nghiệp. Nó đưa ra khung định nghĩa cho quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các nhóm khác nhau: cấp quản lý, Hội đồng quản trị (Board of directors - BOD), cổ đông nắm quyền chi phối và cổ đông thiểu số - trong một tổ chức. Hệ thống và khung định nghĩa này đặc biệt quan trọng cho các công ty với hàng đống cổ đông thiểu số.
Trọng tâm của corp. gov là các thỏa thuận về việc kiểm tra, các bảng kê và động lực mà 1 cty cần có để tối thiểu hóa và quản lý mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Mục tiêu của nó là ngăn ngừa việc 1 nhóm cổ đông chiếm đoạt dòng tiền và tài sản từ các nhóm cổ đông khác.
Nhìn chung trong thực tế, một hệ thống quản trị nội bộ tốt hướng tới việc đảm bảo:
- Các thành viên BOD hành động vì lợi ích cao nhất của chủ sở hữu (shareowners)
- Công ty hành xử một cách hợp pháp và có đạo đức với các cổ đông và người đại diện của họ
- Mọi cổ đông có quyền ngang nhau trong việc tham gia quản trị nội bộ và được BOD và các cấp quản lý trong cty đối xử bình đẳng; cũng như mọi quyền của chủ sở hữu và cổ đông được nêu ra và thông báo rõ ràng.
- BOD và các thành viên BOD được cơ cấu sao cho họ hành động độc lập với các cấp quản lý DN, các cá nhân hay tổ chức có quyền kiểm soát ban giám đốc, và các tổ chức ko phải chủ sở hữu khác.
- Các biện pháp kiểm soát và các quy trình phù hợp đc đưa ra nhằm kiểm soát các cấp quản lý DN trong việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày
- Hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của DN cũng như việc quản trị nội bộ DN đc báo cáo thường xuyên tới các chủ sở hữu một cách bình đẳng, rõ ràng, kịp thời, đáng tin cậy, thích đáng, hoàn chỉnh và có thể xác minh.
Việc 1 cty có thể đạt đc các mục tiêu này hay ko phụ thuộc phần lớn vào sự hoàn thiện của hệ thống quản trị nội bộ và tầm quan trọng của chủ sở hữu trong các vấn đề quản trị nội bộ - thông qua quyền biểu quyết của chủ sở hữu. (1)
Sự thành công của BOD trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cũng phụ thuộc các y/tố này. (2)
Thông qua (1) và (2) có thể đánh giá corp. gov của cty.
Raising awareness rather than setup standard
Thế nào là một hệ thống quản trị nội bộ tốt? Rất khó lượng hóa và cũng ko có cái gọi là 'chuẩn mực' chung nên CFA ko đưa ra các tiêu chí để xác định thế nào là good corp. governance system cũng như ko khuyến nghị corp. gov. nào là phù hợp nhất cho nhà đầu tư. Thay vào đó, các thứ nêu ra ở đây chỉ nhằm gợi ý/cảnh báo nhà đầu tư về các vấn đề cơ bản trong corp. gov. và các rủi ro ảnh hưởng đến doanh nghiệp; đồng thời nhấn mạnh một số nhân tố mà nhà đầu tư cần chú ý.
Tầm quan trọng của quản trị nội bộ đối với nhà đầu tư
- Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên hệ giữa hệ thống quản trị nội bộ tốt với khả năng sinh lời cao cũng như với các thông số đo hiệu quả đầu tư. Vdụ 1 ng/cứu năm 2004 do ISS & Georgia State Uni thực hiện cho thấy: các DN đc quản trị nội bộ tốt nhất (theo cách phân loại của ISS) có ROI và ROE bình quân cao hơn 18.7% và 23.8% so với các DN kém.
...
=> tóm lại là: good corp. gov leads to better results for companies & for investors.
---
Tóm tắt 1 số điểm cần quan tâm trong corp. gov. khi đánh giá từng đối tượng/nhóm trong DN:
- The Board (BOD)
- Management
- Shareowner rights
Mời xem tiếp ở entry này (mìh chán tóm tắt/ translate/ retype r, bao h có nhã hứng mìh sẽ làm nốt :-s )
(mìh hơi đảo lộn thứ tự trong sách nhé)
Các khái niệm
Corp. gov: hệ thống kiểm soát và quy trình nội bộ để quản lý doanh nghiệp. Nó đưa ra khung định nghĩa cho quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các nhóm khác nhau: cấp quản lý, Hội đồng quản trị (Board of directors - BOD), cổ đông nắm quyền chi phối và cổ đông thiểu số - trong một tổ chức. Hệ thống và khung định nghĩa này đặc biệt quan trọng cho các công ty với hàng đống cổ đông thiểu số.
Trọng tâm của corp. gov là các thỏa thuận về việc kiểm tra, các bảng kê và động lực mà 1 cty cần có để tối thiểu hóa và quản lý mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Mục tiêu của nó là ngăn ngừa việc 1 nhóm cổ đông chiếm đoạt dòng tiền và tài sản từ các nhóm cổ đông khác.
Nhìn chung trong thực tế, một hệ thống quản trị nội bộ tốt hướng tới việc đảm bảo:
- Các thành viên BOD hành động vì lợi ích cao nhất của chủ sở hữu (shareowners)
- Công ty hành xử một cách hợp pháp và có đạo đức với các cổ đông và người đại diện của họ
- Mọi cổ đông có quyền ngang nhau trong việc tham gia quản trị nội bộ và được BOD và các cấp quản lý trong cty đối xử bình đẳng; cũng như mọi quyền của chủ sở hữu và cổ đông được nêu ra và thông báo rõ ràng.
- BOD và các thành viên BOD được cơ cấu sao cho họ hành động độc lập với các cấp quản lý DN, các cá nhân hay tổ chức có quyền kiểm soát ban giám đốc, và các tổ chức ko phải chủ sở hữu khác.
- Các biện pháp kiểm soát và các quy trình phù hợp đc đưa ra nhằm kiểm soát các cấp quản lý DN trong việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày
- Hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của DN cũng như việc quản trị nội bộ DN đc báo cáo thường xuyên tới các chủ sở hữu một cách bình đẳng, rõ ràng, kịp thời, đáng tin cậy, thích đáng, hoàn chỉnh và có thể xác minh.
Việc 1 cty có thể đạt đc các mục tiêu này hay ko phụ thuộc phần lớn vào sự hoàn thiện của hệ thống quản trị nội bộ và tầm quan trọng của chủ sở hữu trong các vấn đề quản trị nội bộ - thông qua quyền biểu quyết của chủ sở hữu. (1)
Sự thành công của BOD trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cũng phụ thuộc các y/tố này. (2)
Thông qua (1) và (2) có thể đánh giá corp. gov của cty.
Raising awareness rather than setup standard
Thế nào là một hệ thống quản trị nội bộ tốt? Rất khó lượng hóa và cũng ko có cái gọi là 'chuẩn mực' chung nên CFA ko đưa ra các tiêu chí để xác định thế nào là good corp. governance system cũng như ko khuyến nghị corp. gov. nào là phù hợp nhất cho nhà đầu tư. Thay vào đó, các thứ nêu ra ở đây chỉ nhằm gợi ý/cảnh báo nhà đầu tư về các vấn đề cơ bản trong corp. gov. và các rủi ro ảnh hưởng đến doanh nghiệp; đồng thời nhấn mạnh một số nhân tố mà nhà đầu tư cần chú ý.
Tầm quan trọng của quản trị nội bộ đối với nhà đầu tư
- Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên hệ giữa hệ thống quản trị nội bộ tốt với khả năng sinh lời cao cũng như với các thông số đo hiệu quả đầu tư. Vdụ 1 ng/cứu năm 2004 do ISS & Georgia State Uni thực hiện cho thấy: các DN đc quản trị nội bộ tốt nhất (theo cách phân loại của ISS) có ROI và ROE bình quân cao hơn 18.7% và 23.8% so với các DN kém.
...
=> tóm lại là: good corp. gov leads to better results for companies & for investors.
---
Tóm tắt 1 số điểm cần quan tâm trong corp. gov. khi đánh giá từng đối tượng/nhóm trong DN:
- The Board (BOD)
- Management
- Shareowner rights
Mời xem tiếp ở entry này (mìh chán tóm tắt/ translate/ retype r, bao h có nhã hứng mìh sẽ làm nốt :-s )
Monday, May 30, 2011
Nghiên cứu tài chính một cách có hệ thống
Để ng/cứu về tài chính 1 cách tử tế:
1st, mời bạn đọc (lại) Kinh tế vi mô + Vĩ mô (G.Mankiw) để biết economics là cái gì. (đây là quyển macro, kcó micro thì phải :-S )
[update 2012.10.24: link quyển macro của m die rồi, m tìm đc link khác dán vào. chỉ là copy link thôi chứ đó k fải file của m nhé :) ]
[update 2012.10.24: link quyển macro của m die rồi, m tìm đc link khác dán vào. chỉ là copy link thôi chứ đó k fải file của m nhé :) ]
2nd, đọc Money, Banking & Financial market (Mishkin) để hiểu về thị trường tài chính. Quyển này cực cực cực kỳ hay. Có sách t.việt, nhưng dịch từ hồi năm 2000 và dựa trên bản t.anh xuất bản từ hồi 1992 nên thậm tệ outdated => đọc sách t.anh cho đc việc. (Link here)
3rd: ok rồi, giờ đọc đến (các quyển dưới này mời check ở đây, có nguyên 1 folder, t ngại đưa link từng thứ):
- Corp. Finance hoặc quyển Fundamental of Corp. Finance:
Corp. finance ng/cứu 3 vấn đề, hay nói cách khác, 1 bác làm CFO là người trả lời các câu hỏi:
1. Đầu tư vào đâu thì có lời?
2. Nguồn nào để tài trợ cho khoản đầu tư đó?
3. Quản lý thanh khoản trong ngắn hạn?
Để trả lời đc đống câu hỏi đó thì cần nhất là hiểu đc
3 cái báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả kinh doanh (statement of business/ profit & loss report)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Statement of cash flow)
Bảng cân đối kế toán (balance sheet)
Dòng tiền. Làm finance quan trọng nhất là dòng tiền.
Hiểu về dòng tiền thì bạn làm tài chính dự án (mấy cái mà hay gọi là “FS” í) ngon. Và chính nhờ việc nghiên cứu FS í thì mới trả lời đc câu hỏi (1) ở trên
- Investment:
o Investment nói chung, theo mìh, mìh phân thành 2 loại: direct & indirect.
Direct thì giống như là business: bạn mở xưởng sản xuất, phát triển thêm 1 loại sản phẩm mới, gia nhập 1 thị trường mới… nghĩa là ngoài việc ném TIỀN vào thì bạn phải bỏ công sức quản lý suy nghĩ nọ kia
Indirect: ném tiền vào, kỳ vọng nó sẽ đem lại xx% lợi nhuận. Thế rồi theo dõi xem nó có xảy ra đúng như thế ko, có mang lại xx% như mình kỳ vọng?
Thì quyển Investment này nghiên kíu loại INDIRECT investment. Nó giúp bạn hiểu về các loại “investment assets”, nói nôm na là: nó cho bạn biết có các món ăn này kia => từ đó bạn sẽ chọn ăn cái gì với cái gì cho hợp khẩu vị của bạn.
***
Nếu sau đấy bạn muốn nghiên kíu cái gì đó kỹ hơn thì sẽ có các thể loại gối đầu giường khác, vdụ:
- Commercial bank (P.Rose) nếu quan tâm đến hệ thống ngân hàng thương mại & các sản phẩm
- Định giá bất cứ cái business gì => A.Damodaran
- Có cả n~ quyển viết riêng về Fixed Income hay M&A… các thứ
Okie? Ai có sách gì hay thì cứ recommend ở đây nhé. Thx u in advance :x
p.s: cái này hơi thiên về tài chính doanh nghiệp, mặc dù 1st và 2nd cũng có liên quan dính dáng đến tài chính công & tài chính quốc tế. Anyway vì specialization của t là Corp Finance chứ ko phải 2 cái kia nên t ko rõ về 2 cái kia lắm, k dám chém linh tinh.
Tuesday, May 17, 2011
[Markowitz's theory] phân biệt EF, CML & Utility
Hôm rồi có bạn hỏi tớ, khi bạn í bị lẫn lộn lung tung giữa EF, CML, Utility... Vấn đề là, lúc đọc từng thứ thì ok ko vấn đề gì, nhưng khi ghép 3 cái với nhau thì bị confused.
Tớ thấy phần này trong sách (CFA L1) viết hơi lộn xộn về mặt tư duy, vì vậy t suggest các bạn tư duy kiểu bottom-up như thế này cho dễ nhé.
...
Viết 1 hồi t thấy tóm lại chỉ có như thế này:
- Tiếp điểm của U & CML trả lời câu hỏi: TỶ TRỌNG giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro trong danh mục đầu tư (*)
- Tiếp điểm của CML & EF trả lời câu hỏi: ok, với danh mục đầu tư (*) đó thì TS rủi ro là cái gì?Nếu đọc từng đó mà bạn hiểu đc thì thôi k cần đọc đoạn dưới. Còn nếu chưa hiểu thì ráng đọc tiếp vậy ^^.
1. Bắt đầu từ EF. Chọn chọn nhặt nhặt giữa các loại tài sản rủi ro để ra được một danh mục đầu tư tối ưu, đánh dấu bằng một điểm. Và tập hợp của các điểm như thế => đường EF.
2. Bây giờ ko quan tâm 'danh mục' là cái gì, trong danh mục có những cái gì. Chỉ cần coi mọi điểm nằm trên EF đều là tài sản rủi ro (risky asset) tối ưu. Bây giờ góc nhìn rộng hơn: kết hợp giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro (risk-free asset) như thế nào?
Cái "danh mục" giờ là danh mục giữa đúng 2 tài sản: TS rủi ro & TS phi rủi ro nhé. Biến đổi loằng ngoằng 1 hồi => ra đc CML là tập hợp các danh mục tạo bởi:
- TS phi rủi ro (với độ lệch chuẩn và tỷ lệ sinh lời kỳ vọng - đã xác định & cố định rồi nhé)
- TS rủi ro: đường CML tiếp xúc với EF tại 1 điểm tạm gọi là M => TS rủi ro là danh mục M (độ lệch chuẩn, tỷ lệ sinh lời kỳ vọng cũng như tỷ trọng cụ thể của các TS rủi ro trong danh mục M - đã xác định đc & cũng cố định luôn)
(vì sao nó lại là tiếp điểm giữa CML với EF thì đọc sách nhé, "hoàn toàn Toán" thôi).
Như vậy, các danh mục khác nhau nằm trên CML chỉ khác nhau bởi tỷ trọng giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro.
3. Việc phân bổ bao nhiêu vào TS rủi ro và TS phi rủi ro tùy thuộc mức độ chấp nhận/ e ngại rủi ro của từng nhà đầu tư cụ thể => biến số này đc thể hiện bằng đường Utility (đường lợi ích).
Điểm tiếp xúc giữa U và CML chính là danh mục tài sản tối ưu (gồm cả TS phi rủi ro & TS rủi ro, với 1 tỷ trọng nhất định).
----
Trong sách có vẽ trường hợp U tiếp xúc với EF. Thì đó chỉ là minh họa cho 1 câu hỏi: ok với hàng đống danh mục đầu tư (vào tài sản rủi ro) tối ưu cùng nằm trên EF, chọn danh mục nào cho thỏa mãn lợi ích của nhà đầu tư? Nó đã bỏ qua phần TS phi rủi ro rồi.
Tạm thế. Hope this helpful ^^
Tớ thấy phần này trong sách (CFA L1) viết hơi lộn xộn về mặt tư duy, vì vậy t suggest các bạn tư duy kiểu bottom-up như thế này cho dễ nhé.
...
Viết 1 hồi t thấy tóm lại chỉ có như thế này:
- Tiếp điểm của U & CML trả lời câu hỏi: TỶ TRỌNG giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro trong danh mục đầu tư (*)
- Tiếp điểm của CML & EF trả lời câu hỏi: ok, với danh mục đầu tư (*) đó thì TS rủi ro là cái gì?Nếu đọc từng đó mà bạn hiểu đc thì thôi k cần đọc đoạn dưới. Còn nếu chưa hiểu thì ráng đọc tiếp vậy ^^.
1. Bắt đầu từ EF. Chọn chọn nhặt nhặt giữa các loại tài sản rủi ro để ra được một danh mục đầu tư tối ưu, đánh dấu bằng một điểm. Và tập hợp của các điểm như thế => đường EF.
2. Bây giờ ko quan tâm 'danh mục' là cái gì, trong danh mục có những cái gì. Chỉ cần coi mọi điểm nằm trên EF đều là tài sản rủi ro (risky asset) tối ưu. Bây giờ góc nhìn rộng hơn: kết hợp giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro (risk-free asset) như thế nào?
Cái "danh mục" giờ là danh mục giữa đúng 2 tài sản: TS rủi ro & TS phi rủi ro nhé. Biến đổi loằng ngoằng 1 hồi => ra đc CML là tập hợp các danh mục tạo bởi:
- TS phi rủi ro (với độ lệch chuẩn và tỷ lệ sinh lời kỳ vọng - đã xác định & cố định rồi nhé)
- TS rủi ro: đường CML tiếp xúc với EF tại 1 điểm tạm gọi là M => TS rủi ro là danh mục M (độ lệch chuẩn, tỷ lệ sinh lời kỳ vọng cũng như tỷ trọng cụ thể của các TS rủi ro trong danh mục M - đã xác định đc & cũng cố định luôn)
(vì sao nó lại là tiếp điểm giữa CML với EF thì đọc sách nhé, "hoàn toàn Toán" thôi).
Như vậy, các danh mục khác nhau nằm trên CML chỉ khác nhau bởi tỷ trọng giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro.
3. Việc phân bổ bao nhiêu vào TS rủi ro và TS phi rủi ro tùy thuộc mức độ chấp nhận/ e ngại rủi ro của từng nhà đầu tư cụ thể => biến số này đc thể hiện bằng đường Utility (đường lợi ích).
Điểm tiếp xúc giữa U và CML chính là danh mục tài sản tối ưu (gồm cả TS phi rủi ro & TS rủi ro, với 1 tỷ trọng nhất định).
----
Trong sách có vẽ trường hợp U tiếp xúc với EF. Thì đó chỉ là minh họa cho 1 câu hỏi: ok với hàng đống danh mục đầu tư (vào tài sản rủi ro) tối ưu cùng nằm trên EF, chọn danh mục nào cho thỏa mãn lợi ích của nhà đầu tư? Nó đã bỏ qua phần TS phi rủi ro rồi.
Tạm thế. Hope this helpful ^^
Thursday, May 5, 2011
Doanh nghiệp bất động sản bị phân biệt đối xử
Doanh nghiệp bất động sản bị phân biệt đối xử: "
Các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản bị phân biệt đối xử khi phải chịu lãi suất vay vốn cao hơn doanh nghiệp ở các lĩnh vực ngành nghề khác"
IMO, trước hết, cái kiểu trần với sàn - mìh totally disagree rồi nên ko bàn đến tính đúng đắn của cái việc quy định lãi vay trần/sàn (cho bất kể ngành khỉ gì). Nhưng kêu là real estate bị 'phân biệt đối xử' thì thật nhảm nhí. Mỗi ngành có 1 cái rủi ro ngành khác nhau (industry risk). Làm sao mà đòi ngành này bằng ngành kia? Ngay cả trong cùng 1 ngành còn bị 'phân biệt đối xử' giữa các khách hàng - theo credit rating của khách hàng - thế thì có gì mà kêu nhỉ???
Hơn nữa, theo í kiến chủ-quan-cá-nhân của mìh, các bác xây chung cư í, các bác có một nguồn vốn quan trọng khác: prepaid của buyer. Có developer nào xây xong nghiêm chỉnh cái nhà rồi mới bảo buyer trả tiền? Hay là chưa cần biết mặt mũi cái nhà tn, buyer đã cun cút mà nộp tiền theo tiến độ?
Tuy nhiên, bài này có 1 điểm - mìh totally agree. Đấy là đừng vơ đũa cả nắm gọi "doanh nghiệp bất động sản". Developer rõ ràng khác với broker, right?
IMO, trước hết, cái kiểu trần với sàn - mìh totally disagree rồi nên ko bàn đến tính đúng đắn của cái việc quy định lãi vay trần/sàn (cho bất kể ngành khỉ gì). Nhưng kêu là real estate bị 'phân biệt đối xử' thì thật nhảm nhí. Mỗi ngành có 1 cái rủi ro ngành khác nhau (industry risk). Làm sao mà đòi ngành này bằng ngành kia? Ngay cả trong cùng 1 ngành còn bị 'phân biệt đối xử' giữa các khách hàng - theo credit rating của khách hàng - thế thì có gì mà kêu nhỉ???
Hơn nữa, theo í kiến chủ-quan-cá-nhân của mìh, các bác xây chung cư í, các bác có một nguồn vốn quan trọng khác: prepaid của buyer. Có developer nào xây xong nghiêm chỉnh cái nhà rồi mới bảo buyer trả tiền? Hay là chưa cần biết mặt mũi cái nhà tn, buyer đã cun cút mà nộp tiền theo tiến độ?
Tuy nhiên, bài này có 1 điểm - mìh totally agree. Đấy là đừng vơ đũa cả nắm gọi "doanh nghiệp bất động sản". Developer rõ ràng khác với broker, right?
Tuesday, April 5, 2011
Subscribe to:
Posts (Atom)
academic writing skill
(7)
bẫy thu nhập trung bình (middle income trap)
(3)
books
(2)
CoE
(1)
corp.finance
(8)
derivative and alternative
(3)
derivatives
(2)
dove vs hawk
(1)
economics
(5)
Equity
(2)
Ethics and Standards
(2)
financial market
(2)
fiscal policy
(1)
fixed income
(2)
FSA
(6)
fund
(1)
gold
(1)
golden land
(1)
idea
(1)
IELTS
(2)
indicators;
(1)
linhtinh
(2)
lương khô
(2)
macroeco
(4)
Markowitz theory
(1)
microecon.
(4)
mkt def
(1)
ném đá
(2)
news
(6)
OB
(1)
ôn thi
(1)
port.mgnt
(4)
re academic
(2)
real estate market
(2)
review
(1)
soft skills
(1)
solver tool
(1)
takeover
(1)
thinking
(3)
unfinished task
(9)
US crisis
(1)
USmarket
(3)
VNeco
(6)
writing
(3)
