Monday, May 30, 2011

Nghiên cứu tài chính một cách có hệ thống

Để ng/cứu về tài chính 1 cách tử tế:

1st, mời bạn đọc (lại) Kinh tế vi mô + Vĩ mô (G.Mankiw) để biết economics là cái gì. (đây là quyển macro, kcó micro thì phải :-S )

[update 2012.10.24: link quyển macro của m die rồi, m tìm đc link khác dán vào. chỉ là copy link thôi chứ đó k fải file của m nhé :) ]

2nd, đọc Money, Banking & Financial market (Mishkin) để hiểu về thị trường tài chính. Quyển này cực cực cực kỳ hay. Có sách t.việt, nhưng dịch từ hồi năm 2000 và dựa trên bản t.anh xuất bản từ hồi 1992 nên thậm tệ outdated => đọc sách t.anh cho đc việc. (Link here)

3rd: ok rồi, giờ đọc đến (các quyển dưới này mời check ở đây, có nguyên 1 folder, t ngại đưa link từng thứ):
- Corp. Finance hoặc quyển Fundamental of Corp. Finance:

Corp. finance ng/cứu 3 vấn đề, hay nói cách khác, 1 bác làm CFO là người trả lời các câu hỏi:
1. Đầu tư vào đâu thì có lời?
2. Nguồn nào để tài trợ cho khoản đầu tư đó?
3. Quản lý thanh khoản trong ngắn hạn?
Để trả lời đc đống câu hỏi đó thì cần nhất là hiểu đc
3 cái báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả kinh doanh (statement of business/ profit & loss report)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Statement of cash flow)
Bảng cân đối kế toán (balance sheet)
Dòng tiền. Làm finance quan trọng nhất là dòng tiền.
Hiểu về dòng tiền thì bạn làm tài chính dự án (mấy cái mà hay gọi là “FS” í) ngon. Và chính nhờ việc nghiên cứu FS í thì mới trả lời đc câu hỏi (1) ở trên

- Investment:
o Investment nói chung, theo mìh, mìh phân thành 2 loại: direct & indirect.
Direct thì giống như là business: bạn mở xưởng sản xuất, phát triển thêm 1 loại sản phẩm mới, gia nhập 1 thị trường mới… nghĩa là ngoài việc ném TIỀN vào thì bạn phải bỏ công sức quản lý suy nghĩ nọ kia
Indirect: ném tiền vào, kỳ vọng nó sẽ đem lại xx% lợi nhuận. Thế rồi theo dõi xem nó có xảy ra đúng như thế ko, có mang lại xx% như mình kỳ vọng?
Thì quyển Investment này nghiên kíu loại INDIRECT investment. Nó giúp bạn hiểu về các loại “investment assets”, nói nôm na là: nó cho bạn biết có các món ăn này kia => từ đó bạn sẽ chọn ăn cái gì với cái gì cho hợp khẩu vị của bạn.
***
Nếu sau đấy bạn muốn nghiên kíu cái gì đó kỹ hơn thì sẽ có các thể loại gối đầu giường khác, vdụ:

- Commercial bank (P.Rose) nếu quan tâm đến hệ thống ngân hàng thương mại & các sản phẩm
- Định giá bất cứ cái business gì => A.Damodaran
- Có cả n~ quyển viết riêng về Fixed Income hay M&A… các thứ

Okie? Ai có sách gì hay thì cứ recommend ở đây nhé. Thx u in advance :x

p.s: cái này hơi thiên về tài chính doanh nghiệp, mặc dù 1st và 2nd cũng có liên quan dính dáng đến tài chính công & tài chính quốc tế. Anyway vì specialization của t là Corp Finance chứ ko phải 2 cái kia nên t ko rõ về 2 cái kia lắm, k dám chém linh tinh.

Tuesday, May 17, 2011

[Markowitz's theory] phân biệt EF, CML & Utility

Hôm rồi có bạn hỏi tớ, khi bạn í bị lẫn lộn lung tung giữa EF, CML, Utility... Vấn đề là, lúc đọc từng thứ thì ok ko vấn đề gì, nhưng khi ghép 3 cái với nhau thì bị confused.

Tớ thấy phần này trong sách (CFA L1) viết hơi lộn xộn về mặt tư duy, vì vậy t suggest các bạn tư duy kiểu bottom-up như thế này cho dễ nhé.
...
Viết 1 hồi t thấy tóm lại chỉ có như thế này:

- Tiếp điểm của U & CML trả lời câu hỏi: TỶ TRỌNG giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro trong danh mục đầu tư (*)

- Tiếp điểm của CML & EF trả lời câu hỏi: ok, với danh mục đầu tư (*) đó thì TS rủi ro là cái gì?Nếu đọc từng đó mà bạn hiểu đc thì thôi k cần đọc đoạn dưới. Còn nếu chưa hiểu thì ráng đọc tiếp vậy ^^.

1. Bắt đầu từ EF. Chọn chọn nhặt nhặt giữa các loại tài sản rủi ro để ra được một danh mục đầu tư tối ưu, đánh dấu bằng một điểm. Và tập hợp của các điểm như thế => đường EF.

2. Bây giờ ko quan tâm 'danh mục' là cái gì, trong danh mục có những cái gì. Chỉ cần coi mọi điểm nằm trên EF đều là tài sản rủi ro (risky asset) tối ưu. Bây giờ góc nhìn rộng hơn: kết hợp giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro (risk-free asset) như thế nào?
Cái "danh mục" giờ là danh mục giữa đúng 2 tài sản: TS rủi ro & TS phi rủi ro nhé. Biến đổi loằng ngoằng 1 hồi => ra đc CML là tập hợp các danh mục tạo bởi:
- TS phi rủi ro (với độ lệch chuẩn và tỷ lệ sinh lời kỳ vọng - đã xác định & cố định rồi nhé)
- TS rủi ro: đường CML tiếp xúc với EF tại 1 điểm tạm gọi là M => TS rủi ro là danh mục M (độ lệch chuẩn, tỷ lệ sinh lời kỳ vọng cũng như tỷ trọng cụ thể của các TS rủi ro trong danh mục M - đã xác định đc & cũng cố định luôn)
(vì sao nó lại là tiếp điểm giữa CML với EF thì đọc sách nhé, "hoàn toàn Toán" thôi).
Như vậy, các danh mục khác nhau nằm trên CML chỉ khác nhau bởi tỷ trọng giữa TS rủi ro & TS phi rủi ro.

3. Việc phân bổ bao nhiêu vào TS rủi ro và TS phi rủi ro tùy thuộc mức độ chấp nhận/ e ngại rủi ro của từng nhà đầu tư cụ thể => biến số này đc thể hiện bằng đường Utility (đường lợi ích).
Điểm tiếp xúc giữa U và CML chính là danh mục tài sản tối ưu (gồm cả TS phi rủi ro & TS rủi ro, với 1 tỷ trọng nhất định).


----
Trong sách có vẽ trường hợp U tiếp xúc với EF. Thì đó chỉ là minh họa cho 1 câu hỏi: ok với hàng đống danh mục đầu tư (vào tài sản rủi ro) tối ưu cùng nằm trên EF, chọn danh mục nào cho thỏa mãn lợi ích của nhà đầu tư? Nó đã bỏ qua phần TS phi rủi ro rồi.

Tạm thế. Hope this helpful ^^

Thursday, May 5, 2011

Doanh nghiệp bất động sản bị phân biệt đối xử

Doanh nghiệp bất động sản bị phân biệt đối xử: "Các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản bị phân biệt đối xử khi phải chịu lãi suất vay vốn cao hơn doanh nghiệp ở các lĩnh vực ngành nghề khác"





IMO, trước hết, cái kiểu trần với sàn - mìh totally disagree rồi nên ko bàn đến tính đúng đắn của cái việc quy định lãi vay trần/sàn (cho bất kể ngành khỉ gì). Nhưng kêu là real estate bị 'phân biệt đối xử' thì thật nhảm nhí. Mỗi ngành có 1 cái rủi ro ngành khác nhau (industry risk). Làm sao mà đòi ngành này bằng ngành kia? Ngay cả trong cùng 1 ngành còn bị 'phân biệt đối xử' giữa các khách hàng - theo credit rating của khách hàng - thế thì có gì mà kêu nhỉ???

Hơn nữa, theo í kiến chủ-quan-cá-nhân của mìh, các bác xây chung cư í, các bác có một nguồn vốn quan trọng khác: prepaid của buyer. Có developer nào xây xong nghiêm chỉnh cái nhà rồi mới bảo buyer trả tiền? Hay là chưa cần biết mặt mũi cái nhà tn, buyer đã cun cút mà nộp tiền theo tiến độ?

Tuy nhiên, bài này có 1 điểm - mìh totally agree. Đấy là đừng vơ đũa cả nắm gọi "doanh nghiệp bất động sản". Developer rõ ràng khác với broker, right?

Tuesday, March 22, 2011

Corp.finance 3: Working capital Management (3) - Inventory

MANAGING INVENTORY
  • Aim: keep production continuous however, NO more inventory than necessary
  • Motive for holding inventory
    • Transaction motive
      • inventory is needed as a part of the routine production-sale cycle <=> equals to planned manufacturing
      • dictated by the manufacturing plan
    • Precautionary stock
      • avoid  any stock-out losses <=> profit lost from not having sufficient inventory on hand to satisfy demand (NOT enough inventory)
    • Speculative motive, for example
      • ensuring the availability & pricing of inventory
  • Results of inappropriate inventory reserved
    • Over reserved
      • liquidity squeezes
      • misuse of facility
      • reduce firm's competitiveness: can't match pricing 'cos of its large inventory costs
    • Under reserved
      • losing customers (stock-out losses), gain their ill-will from long delays delivery (?)
      • plant shut down & expensive special runs
      • inability to avoid price increases by suppliers
  • Approach to managing levels of inventory
    • EOQ (economic operating quantity)
      • safety stock: @ Q that needs to order new inventory
      • anticipation stock: Q> Q that needs to order new inventory
    • JIT (just in time), combined with Manufacturing Resources Planning (MRP)
  • Inventory cost
    • ordering
    • carrying
    • stock-out
    • policy
  • Evaluating inventory management
    • No. of days of inventory
    • Inventory turnover

Corp.finance 3: Working capital Management (2) - A/R

MANAGING A/R (account of receivables)
  • A/R features
    • important, 'cos:
      • lead to customers' default (more popular), or
      • lead to decrease sales
    • a go-between for credit manager, treasury manager & accounting manager => need to combine the operating
    • considered to be a derivative activity from credit granting
    • goals of managing AR:
      • update
      • accurate
      • exactly appropriate btw the 3 department
    • How to do managing:
      • inside: by captive finance subsidiary: established to provide financing of the sales of the parent firm
      • outside: outsourcing service
  • Key element of trade credit granting process
    • Types of credit accounts
      •  Ordinary terms: standard format
        •  Net t: pay fully @ t days after today
        • d/t1 net t: discounted d% if pay in t1 days from now, or full @ t days after today
      • CBD: cash before delivery
      • COD: cash ON delivery
      • Bill-to-bill: pay for Nth bill before (N+1)th bill
      • Monthly billing: pay monthly
    • Credit scoring model
  • Managing customers' receipts (not yet understood)
  • Evaluating AR management
    • AR turnover, no. of days of AR: rough data, tell nothing 'bout quality of AR
    • weighted average collection period
      • separate AR in different groups, for example: 1-30days, 31-60days...
      • compute % of each group in total AR (*), eg.: 20/100 = 20%
      • weighted days: multiply (*) by average day in each aging group, for example: average day of aging group "1-30 days" is 28 days => 20% * 28days = 5.6 weighted days
      • sum all the weighted days => weighted average collection period

Thursday, February 10, 2011

Finance, economics, business, marketing???

1. Finance nghiên kíu vấn đề:
- quăng tiền vào đâu để tiền-sinh-ra-tiền. Tất nhiên ko phải là quăng tiền vào đâu đó, sau 3 ngày sinh lời 100% nhưng lạm phát đã 200%. Financier quan tâm đến giá-trị-thời-gian-của-tiền. 1 cách chủ quan, mình cho rằng đó là điểm sáng suốt nhất của finance. Uhm dưới góc độ này thì finance dường như trùng với investment.
- tuy nhiên khi đã lóe ra ý tưởng quăng tiền vào đâu để tiền sinh ra tiền thì financier phải tính đến việc dùng nguồn nào để tài trợ cho cái ý tưởng đó. Investment, dường như, chỉ là: có sẵn 1 đống tiền đó mình làm gì bây giờ?
- cuối cùng, trong lúc nhìn dài hạn vậy thì financier cũng ko quên cân nhắc đến việc làm-sao-để-sống-qua-ngày. Kiểu như chỉ cần qua nốt đêm nay mai mìh sẽ ngồi trên 1 núi tiền. Nhưg mình đã chết đói lúc rạng đông.<= Việc của financier là ko để xảy ra tình trạng đó.

2. Econ. nghiên kíu sự phân bổ nguồn lực.
- nên microecon mới nghiên kíu tại sao doanh nghiệp lại sx cái này còn đi mua cái kia. rộng hơn, microecon trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp í, việc kinh doanh í, có đáng để tồn tại trên thị trường không.
- nên macroecon mới nghiên kíu:
+ cân bằng thị trường và sự "link" linh tinh beng giữa các thị trường.
+ tính hiệu quả & công bằng trong việc phân bổ nguồn lực. rộng hơn, macroecon quan tâm đến tổng lợi ích xã hội - social benefit (trong khi finance chỉ quan tâm đến việc đầu tư của mình profit or loss) (*)

Với cách hiểu này, có thể thấy finance là 1 phần của econ. Econ nghiên kíu sự phân bổ nguồn lực. Có đủ loại nguồn lực (ít nhất có thể kể ra capital & labor). Thì finance chỉ care đến capital thôi :)


3. Thực ra (*) ở trên ko hẳn đúng. Financier quan tâm đến cashflow hơn là profit. Mìh nghĩ rằng profit or loss là việc của CEO và vì thế nó liên quan đến business. Nhưng mình chưa phân biệt đc business với finance & marketing nên tạm để đây đã.

4. Marketing lại cũng là 1 nhánh trong econ. Mkt chỉ tập trung nghiên kíu: à, thị trường này cần cái gì? (hoặc là mình có thể tạo ra thị trường gì?). Và tìm cách đáp ứng.
Với cách hiểu này mìh lại thấy business là 1 phần của mkt. Finance cũng là 1 phần của mkt nốt :)). Chẳng phải nếu mkt tìm ra đc thị trường hoặc method để 'đánh' vào thị trường thì nó chính là 1 business idea? Khi đó financier/investor đang cầm 1 đống tiền có thể consider: ừ nghe có vẻ cũng hay, mình đồng ý ném tiền của mình vào đây!

See?
---
Mong là về lâu dài mìh hiểu rõ hơn để viết lại bài này tử tế hơn. Tạm thời mới biết vậy thôi :">.